Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp, Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn Kiên Giang. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC DAO TAO NGUON NHAN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUỎN NHÂN LỰC VÀ C TÁC ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN L¡ 1.
Khái niệm NNL và vai trò của NNL đối với DN 1. Nguồn nhân lực NNL được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển KT-XH. Xét trong phạm vi một tổ chức thì NNL của một tô chức là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của tất cả những NLĐ trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triển KT-XH.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực. [10] Từ thập niên 80 của thế kỷ XX với sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại, lấy con người làm trung tâm thì thuật ngữ “NNL “ bắt dau được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm NNL không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về NNL.
[10] Theo Liên Hiệp Quốc thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước ”[8][9] Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao. gồm thể lực, trí lực, kỳ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Như vậy, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác là vồn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, sự tham gia của nguồn vốn này trong quá trình SX lại không giống như vốn bằng tiền, von công nghệ, tài nguyên.
Nguồn vốn đặc biệt này được đặt bên cạnh các loại vốn kia nhưng đề khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó. [8][9] Theo tô chức lao động quốc tế (ILO) thì NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuôi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm này chỉ ra quy mô và tiềm lực của một quốc gia và đánh giá về khả năng tham gia hoạt động kinh tế đề tạo ra tài sản cho xã hội của NNL trong quá trình sinh sống và xây dựng đắt nước. “NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuôi lao động có khả năng lao động” [ 20 ,tr 8].
Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh (2008): “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định" [ 3, tr12].[13] Theo David Begg, Stanley Fischer va Rudiger Dornbush thi NNL được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. cho rằng kiến thức mà con người tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất là mẫu chốt vì chính kiến thức đó giúp họ tạo ra của cải, tài sản cho cuộc sống hiện tại và tương lai của chính họ.
[S][9] Theo GS Phạm Minh Hạc: NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu KT-XH nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai. [S][9] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thê được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. là nguồn lực quan trọng nhất đề phát triển KT-XH” [1, tr13][10] Từ các quan niệm trên, NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT-XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố về thẻ lực, trí lực và tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Vai trò của nguồn nhân Iựe[S][9][10] NNL đảm bảo nguồn sáng tạo trong mọi tổ chức. Một tổ chức được đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lượng NNL của tô chức đó. Một lực lượng lao động chất lượng cao luôn là lợi thế cạnh tranh vững chắc cho các DN.
Sự tăng trưởng của một quốc gia tuỳ thuộc vào việc quốc gia đó sử dụng như thế nào các nguồn vốn: vốn con người (NNL), vốn vật chất và tài nguyên. Trong đó, vốn con người đóng vai trò quyết định đến sự thành đạt của mỗi tổ chức, đến sự thành công của mọi hoạt động của tổ chức đó. Vì thế, không phải vô cớ người ta khẳng định yếu tố NNL là nguồn tài nguyên quý báu nhất của mọi tô chức. Sở đĩ NNL trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển KT-XH, chính là bắt nguồn từ vai trò của ố con người.
Do đó, ê phát triển KT-XH phải trang bị tri thức cho người lao động. hay nói cách khác là phát triển NNL với những quan điểm sau: ~ Thứ nhất, đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược KT-XH. Mọi chính sách, mọi giải pháp nhằm giải phóng LLSX và sử dụng có hiệu quả cao nhất NNL và nhằm đề phát huy tiềm năng của nguồn lực. ~ Thứ hai, phát huy nguồn lực con người bằng cách tạo mọi điều kiện để người lao động làm việc và công hiến cho xã hội nhiều hơn.
Muốn vậy, phải phát triển nhanh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động trong phạm vi từng DN đến khu vực và toàn cầu, giải phóng tiềm năng vón, kỹ thuật và công. ~ Thứ ba, nâng cao trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức sáng tạo của người lao động theo hướng phát triển của nền kinh té tri thức. Nâng cao sức sản xuất, sức sáng tạo của người lao động. Tôn vinh và chú trọng nhân tài là nhân tố quyết định phát triển nhanh và bền vững.
Nhà nước cần có biện pháp phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng và có các chính sách đãi ngộ người tải phù hợp. ~ Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo, các chương trình đào tạo, các ngành nghề đào tạo.phù hợp và đáp ứng yêu cầu 10 cho sự phát triển trước mắt và lâu dài. Phối hợp với các ngành hữu quan, dam bảo sự cân đối giữa chương trình, mục tiêu và cơ cấu ngành nghề theo yêu cầu của quá trình phát triển đất nước. Như vậy, trình độ phát triển con người chính là cốt lõi của sự phát triển KT-XH.
Vai trò của NNL vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển KT- XH 1. Khái niệm QTNNL và vai trò của QTNNL 1. Quản trị nguồn nhân Iựe[S][9][10] Để hiểu được khái niệm QTNNL, trước tiên cần phải hiểu được khái niệm nguồn nhân lực là gì và quản trị là gì? Theo Giáo trình QTNNL: “ NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo. những mục tiêu nhất định” (NXB TP.
HCM), Theo Giáo trình Khoa học quản lý II thì khái niệm NNL được hiểu là “ NNL là nguồn lực của con người bao gồm cả thể lực và trí lực. NNL trong tổ chức bao gồm tắt cả mọi cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào trong tổ chức”. Có thể hiểu NNL là tập hợp những cá thể với thể chất, trí tuệ cá tính khác nhau cùng liên kết, làm việc để cùng đạt được mục tiêu của tô chức. Đặc trưng về khả năng, cách suy nghĩ, tự hành động, tự thúc đấy và liên kết của con người làm cho nguồn nhân lực khác biệt so với những nguồn lực khác.
Đến với khái niệm quản trị, theo giáo trình quản trị thì quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra hay nói cách khác là việc thực hiện các hành động làm cho mục tiêu được hoàn thành bằng và thông qua người khác. Như vậy, QTNNL theo giáo trình là “QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đảo tạo và duy trì con người " của một tô chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tô chức lẫn nhân viên”. Vì mỗi con người là một cá thể độc lập, có suy nghĩ và tình cảm nên vị QTNNL không chỉ cần đưa ra những kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đỗ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại, chính xác, mà quan trọng là phải có khả năng tuyển đúng người đúng việc, bi: cách khuyến khích CB, NV làm việc. Do đó, nhiều nhà quản trị có năng lực chuyên môn rất cao, nhưng quan trị không hiệu quả vì thiếu khả năng dẫn dắt, lãnh đạo con người.