Chương 1: Những vấn đề chung về hoàn thiện công tác đánh giá năng lực nhân viên quan hệ khách hàng ở ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Thực trạng hoàn thiện công tác đánh giá năng lực nhân viên 5 quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện công tác đánh giá năng lực nhân viên quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NHÂN VIÊN QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 NĂNG LỰC NHÂN VIÊN QHKH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm Năng lực Năng lực có thể đƣợc hiểu theo hai cách sau: (i) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó.
Hiểu theo cách này: năng lực là một khả năng có thực, đƣợc bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng của ngƣời lao động; (i) Là một phẩm chất tâm lí tạo cho con ngƣời có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lƣợng cao. Hiểu theo cách này: năng lực là một cái gì sẵn có ở dạng tiềm năng của ngƣời lao động có thể giúp họ giải quyết những vƣớng mắc trong quá trình làm việc của ngƣời lao động. [11] Nhƣ vậy có thể thấy, năng lực vừa tồn tại ở dạng “tiềm năng” vừa là một khả năng đƣợc bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những vƣớng mắc trong quá trình làm việc của ngƣời lao động, đó chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một tình huống phát sinh trong cuộc sống. Từ quan niệm trên đây về năng lực, có thể hiểu “năng lực của ngƣời lao động” là khả năng ngƣời lao động vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác để thực hiện tốt các nhiệm vụ công việc, giải quyết có hiệu quả những vấn đề phát sinh trong công việc.
Theo đó, Năng lực của nhân viên QHKH ở NHTM đƣợc hiểu là khả năng vận dụng kết hợp với tập hợp các kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác (động cơ, nét tiêu biểu, ý niệm về bản thân, mong muốn thực hiện…) mà tập hợp này là thiết yếu và quan trọng để thực hiện tốt các nhiệm vụ NH đề ra và là yếu tố giúp một nhân viên QHKH làm việc hiệu quả. Năng lực của nhân viên QHKH có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa đào tạo tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực 7 tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển.2 Những yếu tố cấu thành năng lực nhân viên QHKH tại NHTM Mỗi một công việc sẽ yêu cầu một tập hợp các năng lực – các kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân cần có để hoàn thành tốt vai trò/công việc đó. Tập hợp năng lực này đƣợc gọi là khung năng lực hoặc hồ sơ năng lực. “Khung năng lực là một phương pháp tổng hợp nhằm hỗ trợ cho việc tuyển dụng và xây dựng chương trình quy hoạch cán bộ lãnh đạo – quản lý, xây dựng các chương trình đào tạo, phát triển quản lý và lãnh đạo, xây dựng hệ thống quản lý thành tích và đãi ngộ dành cho đối tượng quản lý và lãnh đạo cũng như nhân viên trong tổ chức” [10] Trong môi trƣờng làm việc, khung năng lực đƣợc sử dụng làm cơ sở cho các tiêu chuẩn năng lực cho các vị trí công tác, nó cũng đƣợc sử dụng để đo lƣờng năng lực nhân viên.
Khung năng lực đã đƣợc chứng minh là công cụ hiệu quả trong tuyển dụng, quản lý thành tích, phát triển nguồn nhân lực và cuối cùng là để nâng cao hiệu quả của toàn bộ doanh nghiệp nói chung cũng nhƣ các NHTM nói riêng. Với các NHTM, để thiết lập một nền tảng hiệu quả cho hoạt động quản lý nhân sự nói chung và nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý nói riêng, mỗi vị trí quản lý cũng nhƣ nhân viên trong NH sẽ có một khung năng lực. Khung năng lực đƣợc chia làm hai nhóm: Năng lực cốt lõi: gồm các năng lực cần thiết cho tất cả các vị trí nhƣ kỹ năng giao tiếp, năng lực ra quyết định và giải quyết vấn đề… Năng lực theo vai trò: là các năng lực ứng dụng cho các vị trí cụ thể trong tổ chức nhƣ năng lực lãnh đạo, năng lực tƣ duy chiến lƣợc… Trong thực tế triển khai, ngoài việc xác định hai nhóm năng lực trên, các NHTM có thể bổ sung thêm năng lực chuyên môn - là các kiến thức kỹ năng và khả năng chuyên môn gắn với lĩnh vực cụ thể có vai trò thiết yếu trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn. Nhƣ vậy, những yếu tố cấu thành năng lực hay khung năng lực nhân viên QHKH ở các NHTM bao gồm: - Năng lực chung: hay năng lực cốt lõi phản ánh văn hóa của NH, yêu cầu tất 8 cả các nhân viên phải có và thể hiện đƣợc trong quá trình làm việc nhƣ: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, kiến thức chuyên môn NH, hƣớng đến khách hàng… - Năng lực chuyên môn/đặc thù: là những năng lực thuộc về lĩnh vực chuyên môn, mang tính đặc thù cho vị trí QHKH mà các cá nhân cần có để đảm nhận vị trí này: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ năng bán hàng/thuyết phục,… Việc chia ra các nhóm năng lực chỉ mang tính chất tƣơng đối, vì thƣờng có sự chồng chéo lên nhau.
Ví dụ, kỹ năng giao tiếp là năng lực cốt lõi vì nó cần thiết cho mỗi công việc, nhƣng nó lại là yếu tố cấu thành trong năng lực chuyên môn của nhân viên QHKH. Trong môi trƣờng kinh tế hiện nay, ngày càng nhiều NH phát triển và áp dụng khung năng lực. Tuy nhiên, trên thực tế đã có những NH thất bại trong việc theo đuổi mục tiêu này vì đội ngũ quản lý không hiểu rõ những lợi ích của khung năng lực và không đƣợc đào tạo đầy đủ về công cụ này; mặt khác, họ không tạo ra đƣợc sự liên kết giữa khung năng lực với mục tiêu của doanh nghiệp và kết cục là khung năng lực mà họ phát triển chỉ là mớ hỗn độn các khái niệm và làm cho nó không thể hiện thực hóa đƣợc những lợi ích tiềm năng vốn có. Vì vậy, các NHTM phải có sự chuẩn bị chu đáo trƣớc khi bắt tay vào xây dựng khung năng lực cho mình.2 CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NHÂN VIÊN QHKH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm Công tác đánh giá năng lực của nhân viên có thể hiểu là công tác đánh giá có hệ thống và chính thức năng lực thực hiện công việc của mỗi nhân viên trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận sự đánh giá đó với nhân viên.
Công tác đánh giá năng lực nhân viên QHKH tại NHTM là công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc, kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc và những giá trị tiềm ẩn bên trong nhân viên. Nếu một nhân viên QHKH có năng lực tốt, đƣợc đặt đúng vị trí với điều kiện làm việc phù hợp thì sẽ có hiệu quả công việc cao, mang 9 lại giá trị cho NH. Đánh giá năng lực là cơ sở để hoạch định nguồn nhân lực (lập kế hoạch đào tạo và phát triển, thuyên chuyển, bổ nhiệm,…) là thƣớc đo để các NH dự báo trƣớc khả năng hoàn thành mục tiêu công việc của nhân viên QHKH, mục tiêu của NH, là cơ sở để trả lƣơng theo năng lực.2 Các phƣơng pháp đánh giá năng lực nhân viên QHKH tại NHTM Để đánh giá năng lực nhân viên, các tổ chức có thể sử dụng rất nhiều phƣơng pháp. Các tổ chức với quy mô, lĩnh vực hoạt động khác nhau thì lựa chọn phƣơng pháp đánh giá cần đƣợc nghiên cứu xây dựng một cách hợp lý và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Đối với ngành NH, là ngành hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực cung cấp dịch vụ nên việc lựa chọn phƣơng pháp cũng có sự khác biệt, theo tìm hiểu các phƣơng pháp NH thƣờng sử dụng là các phƣơng pháp sau: 1.1Phương pháp thang đo đánh giá đồ họa Là phương pháp đánh giá mức độ thực hiện công việc của nhân viên dựa trên các Bảng tiêu chuẩn đánh giá với hình thức cho điểm [4]. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc các NHTM sử dụng, theo đó, ngƣời đánh giá sẽ cho ý kiến về năng lực của nhân viên nói chung, hay nhân viên QHKH nói riêng, theo một thang điểm đƣợc sắp xếp theo một trật tự nhất định, trong đó, các tiêu chí đánh giá đƣợc lƣợng hóa với một số điểm cụ thể. Tổng điểm đạt đƣợc của các tiêu chí sẽ là điểm cuối cùng của nhân viên đó. Phƣơng pháp thang đo đánh giá đồ họa dựa trên các chỉ tiêu liên quan đến kết quả thực hiện công việc nhƣ tính sáng tạo, tính kỷ luật về giờ giấc, nội quy làm việc, mức độ hợp tác trong công việc, kỹ năng làm việc, khả năng trao đổi, diễn đạt thông tin, và một số đặc điểm khác tuỳ thuộc vào yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng NH.
Nói chung, bản chất và mức độ của từng đặc điểm cần đánh giá là do ngƣời xây dựng thang điểm hoặc nhu cầu đánh giá của NH quy định. Để xây dựng phƣơng pháp này có hai bƣớc quan trọng là lựa chọn các tiêu thức và đo lƣờng các tiêu thức đó. Tùy thuộc vào bản chất của từng loại công việc mà các đặc trƣng đó đƣợc lựa chọn có thể là số lƣợng của công việc hay sự hợp tác, 10 nỗ lực làm việc kiến thức thuộc công việc, sáng kiến, tính sáng tạo, độ tin cậy, đảm bảo ngày công, khả năng lãnh đạo… Các thang đo để đánh giá có thể đƣợc thiết kế dƣới dạng một thang đo liên tục hoặc một thang đo rời rạc. Để đánh giá, ngƣời đánh giá xác định mức độ thực hiện công việc của đối tƣợng thuộc về thứ hạng nào đó theo từng tiêu thức.
Việc kết hợp các điểm số có thể theo cách tính bình quân hoặc tổng cộng các điểm ở từng tiêu thức. Để giúp cho ngƣời đánh giá cho điểm dễ dàng và chính xác hơn, mẫu phiếu có thể đƣợc thiết kế chi tiết hơn bằng mô tả ngắn gọn từng tiêu thức và cả từng thứ hạng (Bảng 1.1: Chỉ tiêu đánh giá năng lực nhân viên theo thang đo đánh giá đồ họa H-íng dÉn ®¸nh gi¸ : …….