CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 1. Hoạt động cho vay của NHTM Hoạt động cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng thì cho vay được hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Rủi ro tín dụng trong cho vay của NHTM a. Khái niệm rủi ro tín dụng Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng nhưng theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân Luan van 9 chia thành các loại sau đây: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng + Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… + Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành: + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Nguyên nhân rủi ro tín dụng - Nhóm nguyên nhân đến từ bản thân ngân hàng Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức, thường đi liền với rủi ro tín dụng tăng lên, do việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát, quản lý của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm đi, đồng thời làm cho quy trình tín dụng không được tuân thủ một cách chặt chẽ. Trình độ phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng và các dự án vay vốn của các cán bộ tín dụng còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ trực tiếp nhận hồ sơ khách hàng khiến cho rủi ro tín dụng tăng khi chấp nhận giải ngân những dự án không khả thi hay thậm chí bị khách hàng lừa gạt.
Luan van 10 Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đều làm gia tăng rủi ro tín dụng. Việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố hiện đang là vấn đề nổi cộm trong quy chế cho vay của các Ngân hàng thương mại hiện nay. Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các NHTM khiến cho việc thẩm định hồ sơ của khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn. Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng thoái hóa, thiếu đạo đức.
Các cán bộ này không phải có trình độ năng lực yếu kém mà là vì tư lợi cá nhân, cấu kết với khách hàng dẫn đến những tiêu cực, khiến cho rủi ro với các khoản vay này rất cao. Ngoài ra còn rất nhiều nhân tố khác như chất lượng thông tin và xử lý thông tin, cơ cấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực công nghệ. - Nhóm nguyên nhân đến từ phía khách hàng của ngân hàng Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để được vay vốn và sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ trở nên bấp bênh.
Việc trốn tránh trách nhiệm và nghĩa vụ đã uỷ quyền và bảo lãnh cũng là một nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho NHTM. - Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khác Do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ. Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng.
Ngoài ra, những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt, hạn hán,. tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách Luan van 11 hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng gây ra rủi ro tín dụng. Hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng Khi RRTD xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể. Đầu tiên là bản thân các ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế.
- Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát. Mặc khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe doạ sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. - Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín. Cơ hội tiếp cận ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt chặt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp quy mô hoạt động.
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản. - Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế Ở mức độ thấp, RRTD khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu Luan van 12 cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước. Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM a.
Khái niệm cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM Cho vay ngắn hạn là loại hình cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Đối với các doanh nghiệp hiện nay các khoản cho vay kinh doanh ngắn hạn tài trợ một phần rất quan trọng, từ việc cho vay để thực hiện các kế hoạch kinh doanh trong tháng, quý đến cả năm, đến việc cho vay để mở L/C thanh toán xuất nhập khẩu, cho vay mua hàng hóa trong nước, mua máy móc thiết bị… b. Đặc điểm cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM - Thời hạn của hợp đồng tín dụng ngắn hạn không quá 12 tháng.
- Cho vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu của các doanh nghiệp. - Đối tượng cho vay bao gồm: Giá trị vật tư hàng hóa; Chi phí sản xuất và lưu thông để tạo ra thành phẩm; Giá trị tiền tệ trong thanh toán bao gồm quỹ tiền mặt chuẩn bị thu mua vật tư hàng hóa, tiền gửi thư tín dụng… để thu mua vật tư hàng hóa và các chứng từ giao hàng đang trong thanh toán. - Lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn. - Cho vay ngắn hạn gắn liền với chu kỳ ngân quỹ và nhu cầu vốn thời vụ của doanh nghiệp.
Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tài sản lưu động thời vụ chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu, doanh nghiệp cũng tìm đến các khoản tín dụng ngắn hạn. Các khoản vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều quá trình luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nên thời hạn thu hồi vốn nhanh. Phân loại cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM [16, tr. 660-663] Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường cho vay ngắn hạn rất nhiều hình thức tùy theo mục đích kinh doanh của doanh nghiệp đó: Luan van 13 - Các khoản cho vay mua hàng dự trữ: Các khoản cho vay này chủ yếu tài trợ cho việc mua hàng dự trữ như nguyên liệu thô hoặc thành phẩm hàng hóa.
- Cho vay vốn lưu động: Đây là những khoản cho vay ngắn hạn đối với các hãng kinh doanh, với kỳ hạn kéo dài từ 1 vài ngày đến 1 năm.