Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý chi bảo hiểm xã hội - Chương 2. Thực trạng công tác quản lý chi BHXH tại Bảo hiểm xã hội huyện An Dương. Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chi BHXH tại Bảo hiểm xã hội huyện An Dương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Những vấn đề cơ bản về BHXH 1. Khái niệm BHXH “Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai lực lượng đó là người lao động và người sử dụng lao động. Những người lao động bán sức lao động và nhận tiền công từ người sử dụng lao động.
Thời kỳ đầu, người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi ro trong cuộc sống và trong lao động. Về sau, họ đoàn kết đấu tranh và buộc người sử dụng lao động phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và trong cuộc sống của họ. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy, nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hòa mâu thuẫn này.
Nhà nước buộc giới chủ và thợ cùng phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội, lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và người sử dụng lao động sẽ có lợi từ việc này. Đó chính là nguồn gốc ra đời của quỹ BHXH.1: Sơ đồ nguồn gốc ra đời của quỹ BHXH 5 Đến nay, BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển. Như vậy, có thể hiểu: BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảo bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. - Theo tổ chức Lao động quốc tế: “BHXH là thuật chia sẻ rủi ro và tài chính làm cho BHXH đạt hiệu quả và trở thành một hiện thực ở tất cả các nước trên thế giới”. - Theo giáo trình Kinh tế bảo hiểm của Đại học kinh tế quốc dân: “BHXH là sự đảm bảo đời sống cho người LĐ và gia đình họ khi bị giảm, bị mất khả năng LĐ hoặc mất việc làm , trên cơ sở san sẻ trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH”. - Như vậy khái niệm BHXH: “ BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
Điều 3 Luật BHXH [13] 1. Vai trò BHXH, hệ thống các chế độ BHXH * Vai trò BHXH: - Đối với người lao động: Thứ nhất, BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ. Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ. Khi gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên 6 hoặc phải ngừng làm việc tạm thời.
Do vậy, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế rơi vào tình cảnh khó khăn. Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống, tạo cho NLĐ luôn yên tâm làm việc. Thứ hai, BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Khi tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.
- Đối với xã hội: Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ và NLĐ. Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình, đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người SDLĐ tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội.
Mối quan hệ này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của BHXH. Thứ hai, BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, tạo cho những người bất hạnh có thêm điều kiện, lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người. BHXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một cuộc sống công bằng. Thứ ba, BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng.
Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. Thứ tư, BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ, đồng thời là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng, không phân biệt các tầng lớp trong xã hội.
7 - Đối với nền kinh tế thị trường Thứ nhất, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt, tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau. Rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên túng quẫn. BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ. Thứ hai, đối với các doanh nghiệp, khi NLĐ không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả.
Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường. Thứ ba, khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó của NLĐ trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần phát triển nền kinh tế thị trường. Thứ tư, quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ.
Thứ năm, BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển, vừa tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động. * Hệ thống chế độ BHXH: Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết được pháp luật hoá về đối tượng thụ hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp của từng trường hợp cụ thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. BHXH Việt Nam và BHXH các địa phương có nhiệm vụ thực hiện tốt chính sách BHXH nói chung cũng như công tác chi trả các chế độ BHXH nói riêng cho người lao động và nhân dân trên phạm vi cả nước. Nội dung chi 8 BHXH ở nước ta hiện nay bao gồm các chế độ: Trợ cấp ốm đau, Trợ cấp thai sản, Trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, Trợ cấp một lần, Trợ cấp TNLĐ- BNN, Trợ cấp hưu trí, Trợ cấp tử tuất.
Nguyên tắc BHXH, quỹ BHXH 1.* Nguyên tắc BHXH Các nguyên tắc cơ bản của BHXH là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHXH. BHXH luôn chứa đựng và đan xen hai yếu tố kinh tế và xã hội. BHXH phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản của pháp luật ASXH. Cụ thể là: Thứ nhất, mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được hưởng ASXH, là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người.
Tuy nhiên, để được hưởng một chế độ trợ giúp nào đó thì đối tượng được trợ giúp phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, như để hưởng BHXH thì NLĐ phải tham gia BHXH theo quy định. Thứ hai, nhà nước thống nhất quản lí vấn đề ASXH. Cơ sở của nguyên tắc này nằm ngay chính ở chức năng xã hội của nhà nước. Nhà nước, người chủ sở hữu cao nhất đồng thời là người chủ SDLĐ lớn nhất, người đại diện cho toàn xã hội phải là người thống nhất quản lý toàn bộ lĩnh vực ASXH.
Thứ ba, kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Mục tiêu của chính sách xã hội là nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Trong khi đó, nguồn lực của con người lại được xác định là “yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa - xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội là chủ trương có tính chiến lược của Nhà nước ta.