phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Đà Nẵng. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong tình hình hiện nay, việc Ngân hàng Nhà Nƣớc áp dụng mức trần lãi suất đầu vào để kiềm chế lạm phát, ổn định sự phát triển của nền kinh tế, nên dẫn đến tình trạng chung cho các ngân hàng thƣơng mại là luôn trong tình trạng thiếu vốn và cạnh tranh rất gay gắt trong công tác huy động vốn và tìm kiếm thêm nhiều khách hàng tiềm năng.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu về giải pháp tăng cƣờng huy động vốn của ngân hàng là rất thực tế và phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh hiện nay. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các tài liệu có nội dung tƣơng tự đã đƣợc công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra những phƣơng pháp tiếp cận tối ƣu nhất để hoàn thành luận văn. Qua tìm hiểu và nghiên cứu đề tài với sự tham khảo từ nội dung nghiên cứu của các luận văn trƣớc đây có liên quan đến đề tài, 5 mỗi đề tài có những đặc điểm riêng, khác biệt tùy thuộc vào quy mô, đặc thù sản phẩm, dịch vụ của mỗi ngân hàng. Đề tài: “Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu” – Học viên: Nguyễn Hữu Huy, năm 2013.
Đề tài đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Nêu ra những lý luận chung nhƣ khái niệm, chức năng, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại, phân tích đƣợc thực trạng về hoạt động huy động vốn nói chung, vị thế của GPBank trên thị trƣờng, Đƣa ra một số giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng GPBank. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, đề tài vẫn còn một số tồn tại: Tác giả chƣa đề cập đến việc hoàn thiện các hình thức, phƣơng pháp huy động vốn Đề tài: “Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng – Chi nhánh Bình Định” – Học viên: Thái Thị Tố Trinh, năm 2012. Đề tài đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Nêu ra những lý luận chung nhƣ khái niệm, chức năng, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại, nêu ra đƣợc những nhân tố nội tại ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động huy động vốn tại VPBank Bình Định, Tác giả đã phân tích đƣợc thực trạng về hoạt động huy động vốn nói chung, nêu ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, tốn tại trong hoạt động tăng cƣờng huy động vốn tại VPBank Bình Định, Đƣa ra một số giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng VPBank Bình Định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, đề tài vẫn còn một số tồn tại: Tác giả chƣa nêu ra đƣợc các tiêu chí đánh giá công tác tăng cƣờng huy động vốn, Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2010– 2012 nên có những điểm không còn phù hợp với điều kiện hiện tại.
Đề tài: “Giải pháp tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Khánh Hòa” – Học viên: Phạm Trọng Vũ, năm 2013. Đề tài 6 đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Nêu ra những lý luận chung nhƣ khái niệm, chức năng, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại. Nêu ra những nội dung tăng cƣờng huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại và các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác huy động vốn, đi sâu phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại SCB Khánh Hòa. Từ đó, nêu ra những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, đề tài vẫn còn một số tồn tại: Tác giả chủ yếu tập trung vào việc mở rộng/tăng cƣờng huy động vốn mà chƣa chú trọng đến việc hoàn thiện các hình thức, phƣơng pháp huy động vốn Đề tài: “Tăng cƣờng huy động vốn tại Ngân hàng Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài” – Học viên: Ngô Thị Thanh Hà, năm 2013. Đề tài đã giải quyết đƣợc các nội dung sau: Nêu ra những lý luận chung nhƣ khái niệm, chức năng, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại, nội dung tăng cƣờng huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại và các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác huy động vốn. Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Đầu Tƣ và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài với các nội dung: quy mô tiền gởi, mức tăng trƣởng thị phần, tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn huy động, mức độ phù hợp của chi phí huy động, chất lƣợng dịch vụ huy động vốn. Từ đó, nêu ra những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, đề tài vẫn còn một số tồn tại: Tác giả chƣa nêu ra đƣợc các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động tăng cƣờng huy động vốn Qua việc nghiên cứu nội dung của các luận văn trƣớc đây, tác giả đã kế thừa những lý luận chung về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Từ đó, thực hiện việc phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Đà Nẵng và đƣa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh 7 Đà Nẵng. Bên cạnh đó, đề tài này đƣợc nghiên cứu lần đầu tiên tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt – Chi nhánh Đà Nẵng nên đây là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lắp với bất kỳ tác giả nào khác. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NGUỒN VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại Nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: - Nguồn vốn chủ sở hữu. - Nguồn vốn huy động. - Nguồn vốn đi vay.
- Nguồn vốn khác. Mỗi loại nguồn vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó, nguồn vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM. Với việc huy động vốn, ngân hàng có đƣợc quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn cho ngƣời gởi.
Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cƣ, các tổ chức kinh tế - xã hội… với nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại Để có đƣợc nguồn vốn để thực hiện đầu tƣ tín dụng, NHTM đã tiến hành huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cƣ. Việc huy động vốn này giúp cho NHTM có đủ lƣợng vốn đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế. Tạo ra thu nhập cho ngƣời gởi tiền là một lợi ích mà hoạt động huy động vốn của ngân hàng mang lại.
Những ngƣời gởi tiền vào NHTM sẽ nhận đƣợc tiền lãi, tạo ra thu nhập cho những khoản tiền nhàn rỗi của họ. Ngày nay để huy động 9 đƣợc nhiều tiền gởi, NHTM đã phát triển rất nhiều loại tiền gởi khác nhau: có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn, tiền gởi thanh toán hoặc tiền gởi tiết kiệm… 1. Phân loại nguồn vốn huy động Bởi vốn huy động có ý nghĩa quyết định khả năng hoạt động của mỗi ngân hàng nên nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thƣơng mại. Các hình thức huy động vốn ảnh hƣởng rất lớn đến khối lƣợng vốn huy động đƣợc vì vậy việc đƣa ra các hình thức huy động phù hợp, linh hoạt là điều hết sức cần thiết đối với ngân hàng, bởi nhƣ vậy ngân hàng mới khai thác đƣợc hết các nguồn vốn từ các doanh nghiệp và cá nhân trong mọi thành phần kinh tế.
Nguồn tiền đến với ngân hàng theo nhiều kênh khác nhau, với các hình thức phân loại khác nhau. Phân loại theo bản chất của nghiệp vụ huy động vốn * Tiền gởi thanh toán (tiền gởi giao dịch) Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gởi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gởi thanh toán này có thể đƣợc trả lãi (trả lãi thấp) hoặc không đƣợc trả lãi tùy thuộc vào mỗi ngân hàng. Ngƣời gởi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền với một mức phí thấp.
Các ngân hàng có thể sử dụng các số dƣ tiền gởi khách hàng vào các hoạt động của mình. Nếu nguồn này dồi dào sẽ rất có lợi về mặt tài chính đối với ngân hàng, do đó chi phí nguồn này rất rẻ * Tiền gởi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội Tại Việt Nam, các khoản tiền gởi có kỳ hạn thƣờng nằm trong khoảng 1 tháng đến 24 tháng. Nguyên nhân là vì các doanh nghiệp nƣớc ta hầu hết thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ với số vốn không lớn và tốc độ quay vòng vốn khá nhanh. Do vậy, họ khó có thể gởi tiền với kỳ hạn dài 10 Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gởi có kỳ hạn thƣờng cao hơn nhiều so với tiền gởi không kỳ hạn.
Lý do là vì khi đã thống nhất với ngân hàng về kỳ hạn gởi tiền, có đến gần 90% khách hàng thực hiện cam kết về kỳ hạn. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa loại tiền gởi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng. * Tiền gởi tiết kiệm của dân cư Trong dân cƣ luôn có những ngƣời có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gởi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó.
Ngƣời gởi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thỏa thuận với ngân hàng.