CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm huy động vốn tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD năm 2010 của Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh (HĐKD) khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [16]. “Khái niệm về NHTM có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, song nó đều được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản sau: - NHTM là một tổ chức, một đơn vị HĐKD trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, hoạt động hoàn toàn vì mục tiêu lợi nhuận” [18].
- NHTM được phép HĐV từ bên ngoài với nhiều hình thức khác nhau theo nguyên tắc có hoàn trả. - NHTM sử dụng nguồn VHĐ được từ bên ngoài để thực hiện các hoạt động cấp tín dụng, đầu tư, cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng và các hoạt động tài chính sinh lời khác. “Huy động vốn là các hoạt động nhằm tạo lập vốn cho ngân hàng, hình thành tài sản nợ cho NHTM. Hoạt động HĐV phản ánh quá trình hình thành vốn cho HĐKD của ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ như huy động tiền gửi, đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các DN, các tổ chức và đoàn thể, cá nhân, hộ gia đình” [18].
Bên cạnh việc huy động từ tiền gửi, các NHTM còn sử dụng nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá (GTCG) để thu hút các khoản vốn có tính ổn định cao nhằm gia tăng độ an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Đặc điểm của vốn huy động NHTM là loại hình DN đặc biệt, HĐKD trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Do vậy, nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng có những đặc điểm riêng 7 biệt, đặc biệt là vốn huy động (VHĐ) từ bên ngoài. Vốn huy động là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của NHTM và nó có những đặc trưng nổi bật sau: Thứ nhất, VHĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và đáp ứng phần lớn vốn nhu cầu kinh doanh của NHTM.
Hoạt động kinh doanh của NHTM dựa trên việc “đi vay để cho vay” vì thế để HĐKD đạt hiệu quả, NHTM chủ yếu huy động nguồn vốn từ các thành phần trong nền kinh tế. Lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội là nguồn vốn rất tiềm năng nếu như NHTM huy động hiệu quả, phục vụ tốt cho các hoạt động sử dụng vốn của mình. Thứ hai, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi từ tất cả các chủ thể trong nền kinh tế với nhiều hình thức huy động khác nhau từ các cá nhân, hộ gia đình cho đến các DN, tổ chức kinh tế (TCKT), TCTD. Do vậy, các ngân hàng không ngừng phát triển các hình thức huy động sao cho phù hợp với yêu cầu của từng đối tượng khách hàng để huy động được một nguồn vốn nợ ổn định, tăng trưởng đều và đáp ứng kịp thời các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng.
Tóm lại, đây là nguồn vốn đa dạng về: nguồn gốc hình thành, thời hạn các khoản huy động, giá trị các khoản huy động, loại tiền huy động. Thứ ba, đây là nguồn vốn NHTM vay mượn trên thị trường, ngân hàng chỉ có quyền tạm thời sử dụng mà không có quyền sở hữu. Do vậy, khi thực hiện hoạt động HĐV, NHTM phải tuân thủ nguyên tắc hoàn trả. NHTM phải hoàn trả đầy đủ và kịp thời cả gốc và lãi khi đáo hạn hoặc ngay khi khách hàng có yêu cầu rút tiền trước hạn.
Bên cạnh đó, với các khoản tiền thanh toán, ngân hàng phải luôn đảm bảo chi trả theo đúng yêu cầu của chủ tài khoản. Thứ tư, NHTM phải dự trữ bắt buộc theo quy định của pháp luật. Vốn huy động, đặc biệt là VHĐ từ tiền gửi là vốn NHTM vay mượn trên thị trường và có độ biến động cao vì phần lớn các khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc. Vì vậy, NHTM luôn phải dự trữ một khoản tiền theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và đảm bảo khả năng thanh toán cho các HĐKD của ngân hàng, tránh 8 trường hợp xấu là ngân hàng mất khả năng thanh khoản, gây mất an toàn hệ thống ngân hàng.
Thứ năm, VHĐ có tính biến đổi cao, không ổn định, do chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu, sự biến động của tình hình kinh tế,… Nếu không có sự quản lý và sử dụng VHĐ hợp lý thì NHTM sẽ khó đảm bảo cho các HĐKD của mình. Thứ sáu, ngân hàng phải trả chi phí chi trả lãi cho nguồn VHĐ. Nguồn VHĐ là nguồn vốn ngân hàng vay mượn trên thị trường, do vậy, ngân hàng phải trả lãi cho những khoản vốn này. Thêm vào đó, chi phí chi trả lãi cho những nguồn vốn này luôn gắn liền với kỳ hạn huy động của nguồn vốn, thời gian huy động càng dài, lãi suất càng cao.
Hiện nay, chi phí phải trả cho nguồn VHĐ vốn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí phải trả trong HĐKD của các NHTM. Khi thực hiện định giá lãi suất HĐV, ngân hàng phải quan tâm đến nhiều nhân tố, trong đó có lãi suất HĐV của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, lãi suất cho vay, đầu tư của bản thân ngân hàng và các nhân tố khác. Phân loại vốn huy động trong Ngân hàng thương mại 1. Các loại vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm Khách hàng gửi tiền vào tài khoản tiền gửi có kỳ hạn thường đã có kế hoạch sử dụng vốn cụ thể, do vậy khách hàng thường có xu hướng duy trì số dư tài khoản tiền gửi đến thời điểm đáo hạn để hưởng lãi.
Hơn nữa, trong những khoảng thời gian nhất định, khoản tiền gửi này có thể đạt quy mô vốn tương đối lớn. Vì thế, các NHTM đang có xu hướng đa dạng hóa các kỳ hạn HĐV để huy động tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi này. Tuy vậy, vì đối với khách hàng gửi tiền là DN, tổ chức nên nhu cầu sử dụng vốn lưu động khá lớn, do đó, thời gian tạm thời nhàn rỗi của các khoản vốn này thường ngắn. NHTM thường sử dụng nguồn vốn này đáp ứng nhu cầu dự trữ, cho vay, đầu tư trong ngắn hạn và có khả năng về chuyển hoán kỳ hạn để cho vay, tài trợ 9 một phần hoạt động đầu tư trong trung và dài hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có các kỳ hạn như sau: - Tiền gửi không kỳ hạn Đây là VHĐ thông qua việc mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng nhưng trong đó không ghi rõ thời gian gửi tiền của khách hàng. Do vậy, khách hàng có thể yêu cầu rút tiền ra khỏi ngân hàng bất cứ lúc nào mà NH không có quyền từ chối hoặc đặt ra bất cứ điều kiện gì. Hiện nay, các NHTM đang HĐV không kỳ hạn với hình thức mở tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cho khách hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn ngắn “Đây là nguồn VHĐ có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống của NHTM, trong đó các ngân hàng huy động thông qua việc mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn cho khách hàng hoặc bằng việc các NHTM phát hành các GTCG ngắn hạn, vay trên thị trường liên ngân hàng với thời gian ngắn và vay của NHNN” [2].
- Tiền gửi có kỳ hạn trung và dài hạn Đây là VHĐ có kỳ hạn lớn hơn 12 tháng. Trong đó, các NHTM đi huy động thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi trung và dài hạn, đi vay thông qua việc phát hành các GTCG dài hạn, vay các TCTD khác. Các loại vốn huy động qua phát hành giấy tờ có giá Các GTCG là các công cụ nợ do NHTM phát hành để HĐV trên thị trường. Trong đó chủ yếu là chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và kỳ phiếu.
- Chứng chỉ tiền gửi “Đây là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu chứng chỉ tiền gửi có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán chứng chỉ tiền gửi trên thị trường thứ cấp. Chứng chỉ tiền gửi là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn” [5]. 10 - Trái phiếu “Đây là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất định.
Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay mở rộng SXKD và đầu tư. Việc phát hành trái phiếu sẽ thu hút được lượng tiền ổn định trong trung, dài hạn. Do vậy, phát hành trái phiếu thường được thực hiện khi ngân hàng thực sự cần một lượng vốn lớn hoặc khi ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay trung, dài hạn” [5]. - Kỳ phiếu “Đây là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời hạn, có lãi suất tương ứng với từng loại kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi trước hoặc sau.
Đây là GTCG ngắn hạn nghĩa là ngân hàng sẽ có được nguồn vốn chủ động với tính chất ổn định cao nhưng chi phí mà ngân hàng bỏ ra cũng rất lớn” [5]. Các loại vốn huy động theo đối tượng - Vốn huy động từ dân cư Đây là nguồn vay nợ NHTM huy động thông qua nhiều hình thức khác nhau từ các cá nhân, hộ gia đình trong nền kinh tế. Trong đó, hình thức huy động chủ yếu là nhận tiền gửi của dân cư và phát hành GTCG. - Vốn huy động từ DN và các tổ chức xã hội (TCXH) Đây là nguồn vốn vay nợ mà NHTM huy động được từ các DN và các TCXH thông qua nhiều hình thức khác nhau như: nhận tiền gửi, phát hành GTCG.
Thông qua các hình thức này, ngân hàng thu hút được số lượng vốn lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. - Vốn huy động từ các TCTD khác Đây là nguồn vốn vay nợ mà các NHTM huy động được từ các TCTD khác. NHTM có thể vay các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng khi xảy ra thiếu hụt dự trữ bắt buộc theo quy định, khả năng thanh khoản bị đe dọa hay để đáp ứng nhu cầu kinh doanh khác của bản thân ngân hàng.