CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước 1. Khái niệm cơ chế tự chủ Để hiểu rõ cơ chế tự chủ trong các cơ quan nhà nước, trước hết chúng ta cần làm rõ các khái niệm: cơ chế, tự chủ, cơ quan quản lý nhà nước. Thuật ngữ “cơ chế” là sự chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng Pháp và theo từ điển Le Petit Larousse năm 1999, nó được giải nghĩa là “cách thức hoạt động của một tập các yếu tố phụ thuộc vào nhau”.
Theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2000 giải nghĩa “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”. Như vậy, cơ chế là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tại và phát triển. Tự chủ (autonomy), theo Từ điển tiếng Anh Oxford 2004 là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng hoặc một đơn vị như là nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức, một cơ quan. Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối.
Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước. Các cơ quan nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất đó chính là bộ máy nhà nước. Để duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, đòi hỏi phải có các nguồn lực tài chính đảm bảo để duy trì hoạt động bình thường của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công, được nhà nước thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động.
9 Nói cách khác, cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, mang quyền lực Nhà nước, được thành lập, đảm bảo kinh phí hoạt động và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận hành để quản lý các hoạt động tài chính ở một chủ thể nhất định nhằm đạt được những mục tiêu đã định. Cơ chế quản lý tài chính là sản phẩm chủ quan của con người trên cơ sở nhận thức sự vận động khách quan của phạm trù tài chính trong từng giai đoạn lịch sử. Cơ chế tự chủ trong các đơn vị hành chính thực chất là cơ chế quản lý mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính và biên chế của đơn vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạt đó được đề cao.
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính là việc chuyển đổi phương thức quản lý cấp phát và thanh, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các đơn vị hành Từ các phân tích trên có thể hiểu: Cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước là cơ chế mà theo đó các cơ quan nhà nước được trao quyền chủ động trong việc quản lý, sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính với mục đích tiết kiệm kinh phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước nhưng vẫn đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính là một chủ trương mới, liên quan tới nhiều vấn đề khá phức tạp. Vì vậy cùng với các chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính quốc gia, nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, Việt Nam đã xây dựng các chủ trương và tạo dựng các cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Số tiền mang lại từ việc tiết kiệm các khoản chi thường xuyên của các tổ chức thụ hưởng ngân sách nhà nước được chuyển chi cho các mục đích khác theo qui định của Luật Ngân sách nhà nước. Chính phủ quy định việc khoán chi và khuyến khích vật chất trong các trường hợp tiết kiệm kinh phí ngân sách nhà nước. Đặc điểm cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước là những cơ quan có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công cộng, NSNN phải đảm bảo 100% kinh phí để duy trì sự tồn tại và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Do vậy, cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước có môt số đặc điểm như sau: Thứ nhất, đơn vị được giao quyền hạn tự chủ được chủ động sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính được giao tự chủ.
Căn cứ vào chỉ tiêu biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, đơn vị có quyền sắp xếp lại các phòng ban, cơ cấu tổ chức lại bộ máy, sắp xếp lại vị trí làm việc của người lao động trong đơn vị để đảm bảo làm việc hiệu quả hơn, nhận biên chế thấp hơn hoặc bằng so với chỉ tiêu biên chế giao để tiếp kiệm thời gian, lao động, tạo nguồn kinh phí tiết kiệm và thu nhập tăng thêm cho người lao động. Kinh phí chi thường xuyên đã được Nhà nước giao cho đơn vị, đơn vị có quyền chủ động phân bổ, tìm mọi biện pháp tiết kiệm kinh phí. Thứ hai, phát huy quyền làm chủ của người lao động theo quy định trong mỗi cơ quan đơn vị. Tại đây, người lao động trong cơ quan được tự do thảo luận, đóng góp ý kiến về việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan; được công khai về dự toán chi ngân sách nhà nước trong năm và quyết toán ngân sách nhà nước năm trước liền kề của đơn vị mình; được bàn bạc và thông qua các tiêu chuẩn, định mức trong cơ quan, các chế độ chi tiêu sẽ được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, làm căn cứ để thực hiện các nhiệm vụ chi sau này.
Ba là, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng hơn, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà. Kết thúc năm ngân sách, đối với các khoản chi chưa sử dụng hết, đơn vị lập tờ trình đề nghị chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng. Việc làm này sẽ giúp làm giảm bớt thủ tục hành chính (thay vì nộp lại vào ngân sách nhà nước, năm sau lại cấp phát lại, đơn vị được tiếp tục để lại kinh phí tại tài khoản của đơn vị mình, chuyển nguồn ngân sách năm sau). Từ đó, giúp cho công tác lập dự toán ngân sách nhà nước năm sau, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm trước được đơn giản gọn nhẹ hơn, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng, nhanh gọn hơn.
Bốn là, quản lý tài chính trong cơ quan đều được công khai minh bạch thông qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ trong cơ quan. Theo quy định, các cơ quan nhà nước đều phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình trên cơ 11 sở các tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn trong cơ quan và phải được công khai trong toàn cơ quan để mọi lao động trong đơn vị được biết. Trên cơ sở các định mức chi, chế độ chi đã được quy định cụ thể, rõ ràng trong Quy chế, việc chi tiêu kinh phí trong cơ quan nói riêng và việc quản lý tài chính tại đơn vị nói chung sẽ đảm bảo được tính công khai, minh bạch. Năm là, kinh phí trong năm sử đụng không hết được phép chuyển năm sau để chi tiêu tiếp.
Trước khi cơ chế tự chủ ra đời, kết thúc năm ngân sách, mọi khoản kinh phí của đơn vị chưa sử dụng hết đều phải nộp lại ngân sách, nhiệm vụ nào cần thiết phải tiếp tục thực hiện sẽ được cấp kinh phí vào năm sau. Sau khi các đơn vị được giao thực hiện cơ chế tự chủ, đối với các nhiệm vụ đang thực hiện dở dang hoặc chưa thực hiện, đơn vị được quyền lập tờ trình đề nghị chuyển nguồn kinh phí trong năm chưa sử dụng hết sang năm sau để tiếp tục chi và thực hiện nhiệm vụ đã đề ra mà không cần nộp trả lại ngân sách. Sáu là, hàng năm đều có tăng thu nhập cho người lao động. Kết thúc năm ngân sách, sau khi hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn số dự toán được giao về kinh phí thực hiện chế độ tự chủ thì phần chênh lệch này được xác định là kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được, được sử dụng để chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động trong đơn vị, chi khen thưởng và các hoạt động phúc lợi tập thể của cơ quan; trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Bảy là, hiệu quả công việc và kinh tế cao hơn. Với việc sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được để chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, chi khen thưởng và các hoạt động phúc lợi tập thể trong đơn vị sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động trong cơ quan đơn vị phấn đấu hoàn thành công việc được giao với chất lượng cao hơn, thúc đẩy hiệu quả công việc trong toàn đơn vị tăng cao. Đồng thời, với các mức chi đã được quy định cụ thể trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị cũng là căn cứ giúp chi tiêu tiết kiệm hơn, việc sử dụng ngân sách nhà nước cũng đạt hiệu quả hơn. Nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước Từ những đặc điểm của cơ chế tự chủ nêu trên, việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ quan nhà nước phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, quyền tự chủ phải bảo đảm đi kèm với hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.