NHIỆT ĐỘNG HÓA HỌC MO DAU Nhiệt động học là một ngành khoa học nghiên cứu về các qui luật chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác, từ phần này sang phần khác của hệ, hiệu ứng năng lượng của các quá trình hóa lý và hóa học, sự phụ thuộc của các hiệu - ứng này vào điều kiện tiến hành quá trình; đồng thời xem xét chiều hướng và giới hạn của sự chuyển hóa năng lượng trong những điều kiện xác định. Nhiệt động học đã hình thành và tách thành một ngành khoa học độc lập vào giữa thế kỷ thứ 19 khi nghiên cứu công của các đầu máy hơi nước. Về sau phạm vị nghiên cứu của nhiệt động học được phát triển và mở rộng hơn nhiều. , Cơ sở của nhiệt động học.chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý Ï và II.
Cả hai nguyên lý này đều là kết quả nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên qua nhiều thế ký của loài người và đúc rút thành nguyên lý mà không chứng minh được bằng lý luận, nên nó như là những tiên đề. Tuy nhiên, sự đúng đắn của các nguyên lý đó là ở chỗ mọi hệ quả suy ra một cách lôgic từ chúng hoàn toàn phù hợp với lý thuyết và thực tế, chưa có hiện tượng nào mâu thuẫn với chúng. Nhiệt động học được chia thành nhiệt động học vật lý (nhiệt động học đại cương) nghiên cứu lý thuyết tổng quát về nhiệt động học, những qui! luật chung nhất về sự chuyển hóa năng lượng. : Nhiệt động học ki thuat nghiên cứu sự biến hóa giữa nhiệt và công cơ học sinh ra trong các máy nhiệt như động cơ nhiệt.
máy hơi nước, động cơ đốt trong. xây dựng và hoàn thiện các động cơ này. Nhiệt động hóa học áp dụng các nguyên lý của nhiệt động học để khảo sát các hiện tượng hóa học. hóa lý như: phản ứng hóa học.
quá trình hòa tan, bay hơi, nóng chảy, thăng hoa. mà chủ yếu là sự biến hóa năng lượng trong các hiện tượng trên. Trong nhiệt động hóa học người ta chỉ chú ý đến trạng thái đầu và trạng thái cuối của phản ứng, nghĩa là từ những điều kiện nhiệt động cho trước của phản ứng hóa học, dự đoán xem phản ứng có xảy ra hay không và giới hạn của \ phản ứng nếu xảy ra mà toàn toàn không chú ý tới tốc độ của quá trình. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng vai trd to lớn của nhiệt động hóa học là: có nhiều trường hợp không cần tiến hành thí nghiệm vẫn có thể dự đoán được phản ứng có xảy ra hay không cũng như giới hạn của phản ứng qua tính toán dựa vào các dữ kiện nhiệt động.
Ngược lại, nếu qua tính toán nhiệt động học mà kết luận phản ứng không thể xảy ra trong điều kiện đã cho thì không nên làm thí nghiệm vì chấc chấn sẽ thấtbại. - HHĐC s5 Ngoài hai nguyên ly I va IJ còn có nguyên lý không và nguyên lý IH. Nguyên lý không khẳng định: "Hai hệ nằm cân bằng nhiệt với hệ thứ ba thì chúng nằm trong cân bằng nhiệt với nhau" — nghĩa là mọi hệ ở trạng thái cân bằng với nhau thì có cùng nhiệt độ. Nguyên lý II (1906) tuy không mang tính chất tổng quát như nguyên lý Ï và II nhưng có ý nghĩa to lớn về khoa học và thực tế, cho phép tính được giá trị tuyệt đối của entropi của các đơn chất và hợp chất và tính hằng số cân bằng của phản ứng hóa học.
Phương pháp nhiệt động học chỉ áp dụng cho hệ vĩ mô. tuy nhiên không phải là hệ vũ trụ (có kích thước vô hạn) đây chính là giới hạn trên của nguyên lý II đồng thời cũng không áp dụng cho hệ vi mô (gồm có số ít các tiểu phân hoặc cho từng tiểu phân riêng lẻ) đó là giới hạn đưới của nguyên ly II. Phương pháp nhiệt động học còn gọi là phương pháp năng lượng vì nó nghiên cứu về mặt năng lượng của các hiện tượng tự nhiên cũng như của các hiện tượng hóa lý và hóa học. Các đại lượng cơ bản trong nhiệt động học là các thế nhiệt động hay là những hàm trạng thái của hệ khảo sát có bản chất là nãng lượng.
Dựa vào sự biến thiên của các thế nhiệt động này (chỉ phụ thuộc vào trạng thái đầu và cuối mà không phụ thuộc vào các giai đoạn trung gian) mà ta có thể tiên đoán được chiều và giới hạn. của quá trình. Vì lẽ đó, phương pháp nhiệt động cho phép sử dụng các quấ trình có tính chất ước lệ điển hình. được lựa chọn có tính toán sao cho vấn đề đặt ra được trình bày vừa đơn giản vừa dễ hiểu nhất.
Cũng vì lẽ đó cái tên “nhiệt động học” có tính chất lịch sử này giờ được thay bằng "nhiệt động lực học” và nhiệt động hóa học được gọi là "nhiệt động lực học của các quá trình hóa học". ta vẫn có thể gọi là nhiệt động hóa học và hiểu theo ý nghĩa của ‹ tên gọi: Nhiệt động lực học hóa học. MOT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA NHIỆT ĐỘNG HỌC I. Hệ nhiệt động 1.
Khái niệm về hệ nhiệt động và môi trường le nhiệt động (gọi tất là hệ) là một vật thể hay một nhóm vật thể được khảo sát, bao gồm một số rất lớn các tiểu phân (phân tử.), những vật thể - khác ngoài hệ được gọi là môi trường xung quanh.) Cần lưu ý rằng nhiệt động học chỉ nghiên cứu các hệ vĩ mô (gồm một số rất lớn các tiểu phan) — nghĩa là hệ có kích thước không gian và thời gian tổn tại đủ lớn để có thể thực hiện các phép đo thông thường. Mot coc nude đường, một lò Vôi, v. là những hệ nhiệt động. Nói chung, mọi vật trong giới hạn kích thước thông thường đều là những hệ vĩ mô.: Ranh giới giữa hệ và môi trường có thể là thực, cũng có thể là do qui ước hay tưởng tượng.
Tùy thuộc vào quan hệ giữa hệ với môi trường mà chia ra các hệ cơ bản. Một số loại hệ tHe cô lập là hệ không trao đổi năng lượng và chất với môi trường. ` Hệ kín là hệ có khả năng trao đổi năng lượng nhưng không trao đổi chất với môi trường. Ý Hệ mở là hệ vừa có khả năng trao đổi năng lượng, vừa có khả năng trao đổi chất với môi trường.
Hệ đoạn nhiệt là hệ không trao đổi nhiệt với môi trường. Ngoài các hệ nêu trên chúng ta còn gặp các khái niệm về hệ đồng thể. hệ dị thể. hệ đồng nhất và hệ không đồng nhất.
Hệ đồng thể là hệ trong đó không có bề mặt phân cách giữa các phần trong hệ. Dung dịch lỏng là'ví dụ về hệ đồng thể. Ngược lại. nếu trong hệ có bề mặt phân cách thì đó là hệ đÿ rhể.
Ví dụ một cốc nước đá đang tan; một cốc nước có chứa muối ít tan ở thể rắn. là hệ đị thể. : Hệ đồng thể có thể là đồng nhất nhưng cũng có thể là không đồng nhất. Nếu tính chất lý hóa và thành phần ở mọi phần trong hệ như nhau thì đó là hệ đồng nhất.
trường hợp ngược lại thì hệ là không đồng nhất. Ví dụ bầu khí quyển, nước trong đại dương là hệ không đồng nhất mặc dù đó là những hệ đồng thể vì các _ tính chất của hệ khí quyển ở độ cao khác nhau là khác nhau còn áp suất, khối lượng riêng. trong lòng đại dương thay đổi theo độ sâu. Trạng thái nhiệt động và thông số trạng thái 1.
Trạng thái nhiệt động của hệ được xác định bằng tập hợp những đại lượng vật lý có thể đo được trực tiếp hay gián tiếp như thể tích (V), khối lượng (m). áp suất (P), nhiệt độ (T), chiết suất. Khi thay đôi bất kì một trong số những đại lượng trên thì đều làm trạng thái nhiệt động của hệ thay đổi. Khi mà tất cả các tính chất đặc trưng cho hệ như T, V, P.
không đổi theo thời gian thì ta nói hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động. Trạng thái cân bằng nhiệt động bao gồm: — Cân bằng nhiệt: ở tất cả các phần khác nhau của hệ có nhiệt độ bằng nhau. — Cân bằng hóa học: hóa thế của mọi cấu tử tạo nên hệ có giá trị như nhau. — Cân bằng cơ: áp suất ở mọi phần trong hệ có giá trị bằng nhau.
Thông số trạng thái là những đại lượng vật lý đặc trưng cho trạng thái của hệ như: áp suất, nhiệt độ, thể tích, nội năng (U). Các thông số trạng thái có đặc điểm chung là: giá trị của chúng chỉ phụ thuộc trạng thái của hệ mà không phụ thuộc vào nguồn gốc đưa hệ đến trạng thái đó và do vậy sự biến thiên của các. thông số trạng thái cũng như hàm trạng thái chỉ phụ thuộc vào trạng thái đầu và trạng thái cuối của quá trình mà không phụ thuộc vào cách tiến hành quá trình. HHĐC s 7 Vị phân của các thông số trạng thái: dV.
dP, dT, dU. 14 những vi phân hoan đ chỉnh °?. Người ta chia 1 ra làm hai loại thông số trạng thái cơ bản: + Thông số cường độ không phụ thuộc vào khối lượng của hệ và do đó không có tính chất cộng tính như: T, P, nồng độ (C).: 4 Thông số khuếch độ (hay dung độ) phụ thuộc vào khối lượng của hệ và do dé có tính chất cộng tính như: V, Ù, entropi GÌ. Cần chú ý rằng trạng thái nhiệt động của hệ được đề cập ở trên là trạng thái Vi mô.
Còn trạng thái vi mô của hệ có chú ý đến từng phân tử, nguyên tử về vị trí và tốc độ của chúng. Do phân tử, nguyên tử chuyển động không ngừng nên tọa độ và xung lượng của chúng liên tục thay đổi. Nghĩa là ứng với một trạng thấi vĩ mô - của hệ có nhiều trạng thái vi mô. G9 pe vớ saba ` ¬ ns ae NI Z as ae aps ‘Haim trang thdi va vi phan todn phan cua ham trang thai: Néu F la mét ham trang thei thi SF = F,-F, nghĩa là biển thiên của hàm trạng thái chỉ phụ thuộc vào giá trị của hàm ở trạng thái đâu vd cudi ma không phụ thuộc xào đường đi.
Về mặt toán học, nếu ta cé: aF = Mixyvidv+ Nixwidy - (a) trong đó M.N, F đều là hàm của x và v thì dF sẽ là vỉ phản todn phần n tiểu thỏa mãn điểu kiện: OM ON cl. Mặt khác ta có: dF=|——| œx+| | ted Ox ¥ !