mở đầu một thời kỳ mới của hoá học trị liệu. Năm 1880, các thuốc trị hiệu chống nguyen sinh động vật (antiprotozoal) ra đời, tiếp đá là việc phát mính ra và đưa vào sử dụng các thuốc sốt rết tông hợp. sau đó là các thuốc gãy ngủ (hypnotic). các thuôc chống viêm, các chất tiết adrenaline (adrenergic) và tiết acefylcholine (cholmergic).
Sau đó là các thuốc kháng khuẩn, các kháng sinh, các chât có tác dụng gìâm đau, các kháng histamin, phát triển các vitamin, Sau Chiên tranh Thế giới thứ II, việc nghiên cứu các thuốc chéng lao, cdc hocmon steroit, hocmon peptit, cdc thuốc tránh thai được phát triển, tiếp theo là các thuỏc chống ung thư, chống virus, và nổi cộm hiện nay la thuộc chéng AIDS, SARS. sau đày ghí lại những mốc lịch sử phát minh ra các loại thuốc quan trọng theo thử tự thời gian trong suốt hơn 1,5 thế kỷ qua. Các mốc lịch sử phát minh ra các thuốc chữa bệnh quan trọng NĂM Tên thanh quả {người tìm ra nó) 1805 Chiết suất được morphin (Serturner) 1842 - 1647 | Bua ete, nhrogen-gxit vã cloroform thành như là thuốc gày mé (Long, Colton, Simpson. Wells, Morton, Worren, Balasa} 1887 Sử dung phenol lrong phẫu thuật như là chất tiệt trung (Lister) 1876 Phát hiện ra tác dụng gidm dau cilia axit salicylic (Stricker) 1899 Phát triển thuyết giải thích về tác dụng gây mê (Meyer và Overton) 1903 Tong hap veronal va dua vao sử dụng như là một thuốc ngủ (Fischer va Mehring) 1912 Đưa các barbiturat vao điều trị bệnh động kính (Fischer và Mehrina) NĂM Tên thành qua (người tìm ra nó) 1821 Phát hiện ra axetylcholin như lä chất trung chuyển của hệ thần kinh (Loewi) 1926 Biéu ché ra insulin tinh thé (Abel) 1927 - 1928 | Phân lập được axit ascobinic (vitamin C) (Szent — Gyorgy) 1929 Đưa khái niệm đẳng cấu điện tử vào nghiên cưu thuốc 1929 Phat minh ra penixiflin (Fleming) 1932 Phat minh ra prontosil nhy là tác nhàn kháng lại Streptococus (Domagk) 1933 Tổng hợp ra axil ascarbinic (Haworth, Reichstein) 1934 Téng hop progesteron (Ruzicka) 1940 Phan lap ra penicillin (Chain, Florey} 1942 Phát minh ra các thuốc giảm dau cé tén Meperidin va Metadon (Ehrhart, Schaumann) 1943 Phat minh ra hoạt tính gay ảo giác của chất axit lizergic dietylamit va tang hop no (A.
Hofmann) 1945 Téng hop toan phan quinin (Woadward, Doering) 1946 — 1950 | Tổng hợp cortisone và hydrocortisone (cortisal) (Sarett, Wettstein, Wendler) 1947 Phat minh ra isopretenol ñhư là thuốc giãn mạch (Lands) 1948 Téng hap penixillin (Du Vigneand) 1948 Điều chế penxrlin bang téng hap sinh hoc | 1949 Phat minh ra tac đụng chống u của các dẫn xuât purin 1950 Tim ra oxitetracyclin 1952 Phát hién ra tac dung an than kinh cia chlorpromazine 1953 Tim ta cấu trúc của ADN 1855 Đưa œ-melyl dópa thành thuốc ha huyết áp 1956 Phát hiện ra kháng sinh nhom cephalosporin 1957 Phat hién ra tac dung tc ché tang sinh virus cla Interferon 1958 St dung 6-APA vao viée điều chế các penixillin bán tổng hợp 1859 Lan dau tiên xuất hiện các thuộc trành thai uống 1962 Mo hinh hoa toan nac mdi lién quan cau trúc và tac dung 9 NĂM Tên thành quả (người tìm ra nó) 1964 Đưa progranolol thanh thuốc phong bế Ñ-adrenergc (Black) 1965 Phat hiện ra tetramisol như lá thuốc diệt giun (.Íanssen) 1967 Đưa †-aminp adamanlan thánh tác nhân chống cúm 1987 Sử dụng L-dopa làm thuốc chống Parkinson (Catzías] 1975 Phát hiện ra các polipeptit giảm đau loai endogen 1877 Đưa Cimetidin như là một đối kháng thụ thế H„ để chống la: viếm da dày 1984 Phat hién ra virus AIDS 1. Tóm tắt về tỉnh hình phát triển và hiện trạng của ngành Dược và Hóa dược Việt Nam Có thể phân chia việc khai thác, sản xuất và sử đụng thuốc trong việc điều trị bệnh của nước ta thành nhímng thời kỳ sau: - Từ thời thượng cổ đến thế ký XIII: Tir lau Ong cha ta da biết dùng hành, tỏi, nghệ, hương nhu, mật ong. Vào thời gian đó. thuốc và phương thức chữa bệnh chỉ là những kinh nghiệm được truyền miệng trong dân gian.
Đời Hùng Vương (gần 200 năm trước Công nguyên) đã biết nấu rượu và dùng rượu để làm thud an thần. Hon 1000 nam phong kiến Trung Quốc đô hò, họ đã lấy về Trung Quốc nhiều loại thuốc quý của ta và đã du nhập thuộc bác vào nước Ia. Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIH, qua các triều Ngõ. Định, Lẻ, Lý, nước ta đã có thay thuốc chuyên nghiệp, các thấy thuc đã tổ chức trồng cây thuốc để lây nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh.
— Thế ky thir XV va XIX: + Chu Văn An (1292 - 1370) người Thanh Trì - Hà Nội đã viết ra nhiều loại thuốc từ cây cỏ. + Nguyễn Bá Tĩnh tức Tuệ Tĩnh (người Cẩm Giàng - Hải Dương) đã viết bộ “Nam Dược thần diệu gồm 58Ó vị thuốc nam với 3873 phương thuốc dân tộc ứng trì 184 loại bệnh. Ông cũng là người đã phát triển được liêu. + Lê Hữu Trác (1720.— 1791) tưc Hải Thượng Lãn Ông, quê ở Hương Mỹ - Hải Dương.
văn võ song toàn nhưng không chịu ra làm quan, làm tướng cho chúa Trịnh. Ông vẻ quê mẹ ở Hà Tĩnh nghiên cứu bẻnh tát, thuốc nam và đã phát hiện thêm 300 vị thuốc nam. tổng hợp thém 2854 phương thuốc dan tộc. Dưới triều đại phong kiến.
được học phản nào đã được phát triển trên cơ sở thuốc nam. ¬ Dưới thời kỳ đó hò của thực dân Pháp (1858 - 1945): Do ảnh hương của thị trường thuốc Tây, nghiền cứu khám phá Đông được phán nào bị hạn chế. Ö các bênh viện, người giàu. quan chức dùng thuốc Pháp, chỉ đại đa số nhàn dân ở nung thôn (90%) chữa bệnh bảng thuốc tam (thuốc đân tốc).
Thời gian này, phần lớn thuốc chữa bệnh được dua từ Pháp sàng. ke ca nước cất. Pháp không chú trương phát triển sản xuất được ở nước ta nên trong hơn 80 năm đô hộ. Pháp chỉ đào tạo được 60 dược sĩ Đông Dương (trình đã trung cấp) còn được sĩ Đại học thị từ năm 1930 mới có, môi năm chỉ đào tạo | - 3 người, chủ yếu là để bán, kinh doanh thuốc tại các cửa hiệu thuốc, không có nghièn cứu hoặc sản xuất thuốc.
— Sau cach mạng tháng Tám (thời gian chín năm kháng chiến): Thời gian kháng chiến bùng nô rất thiếu thuốc vì lúc đó ta chưa sản xuât được thuốc. tài chính nghèo nàn mà lại chưa có quan hệ quốc tế nên viện trợ quốc tế cũng không có. Đáy là thời ky day khó khăn về thuốc chữa bệnh, sết rét không có thuốc điều trị, mổ xẻ phẫu thuật không có thuốc mê, v. Chủ trương đề ra là tự lực cánh sinh trong việc nghiên cứu, sản xuất thuốc phục vụ cho chiến trường.
Với những nỗ lực của các nhà khoa học. việc nghiên cứu sản xuất thuốc được khởi sắc: + Sản xuất thuốc sốt rét từ lá cày thường sơn, vô cây sữa, vỏ cây canhkina. + Sản xuất thuốc ly, ia chảy từ hạt khổ sâm. + Sản xuất thuốc chữa ho từ cao cây bách bộ, nam bán hạ.
Thời kỳ đó nhiều xưởng quân được được xây dựng như: XE-L4, LX-10, LK3-4, LK-5. Các xương quan duoc nay san xudt CaCl,. chiét tetrahidropalmatin [ầm thuốc an thần từ củ bình vôi, eaƒfeine làm thuốc trợ tìm từ lá chè, morphine làm thuộc giảm đau từ nhựa cây thuốc phiện, đầu long não từ cây long não, đầu giun, đầu khuynh diệp, sản xuất ete mé, cloroform, muối NaCl tiêm, bột bá, v. Tất cả để phục vụ cho bộ đột và lực lượng kháng chiến.
— Hoà bình lập lại (1954) đến 1965: Cẩn tạo tư doanh, ở Hà Nội, Hài Phòng có 40 hiệu thuốc tư, trên toàn miền Bac có khoảng 1.000 đại lý thuốc Tây. Thủ tướng chính phủ ban hành nghì định: ngành dược được độc quyền nhập, sản xuất, phân phối, buôn bán thuốc men và nguyên liệu làm thuốc. Nam 1958 hình thành nén cong nghiệp sản xuất được phẩm. Năm E961, mỏt số nhà máy, xí nghiệp sản xuất được lần lượt ra đèn: Xí nghiệp Hoá được - Thuỷ tình, Đông được, Y cụ, các xí nghiệp duoc Trung wong — 1, 2, 3 (gai tat la XN-1, XN-2, XN-3).
Lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu được cũng bát đầu khởi sắc. Năm ]964 trường Đại học Dược tách riêng ra khỏi Đại học Y ~ Dược Hà Nội, Viện kiểm nghiệm, Viện Dược liêu được thành lập, v. Ngành công nghiệp được vừa mới được bắt đầu khởi sắc thì chiến tranh phá hoại củu giặc Mỹ xảy ra (tháng 8/1964), một thời kỳ mới bắt đầu. - Thời kỳ chiến tranh phá hoại miền Bác (1965) đến năm 1990; Ca nước có chiến tranh.
nhu cầu thuốc chữa bènh tăng lên nhiều. Ngoài các xí nghiệp dược Trung ương, hệ thống các xí nghiệp được địa phương ở các tỉnh thành được ra đời. Ngành được đảm bảo thuốc men, cùng cả dân tộc góp phân vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Nhiệm và ngành được thời chiến tranh (965 - 1975: chủ yếu là sản xuất, cung cấp, phân phối thuốc cho việc điều trị bênh thời chiến, Cuộc kháng chiến chống Mỹ lần này của chúng ta khác với kháng chiến chống Pháp trước đó (1946 - 1954).
Lần này chúng ta được các nước trong phe XHCN, các nước tiến bộ yéu chuộng hoà bình ủng hộ rất nhiều về mọi mặt, trong đó có cả thuốc chữa hẻnh. Thuốc được viện trợ chủ yếu là tiuốc thành phẩm và nếu có nhập khẩu thêm thì cũng là thuốc biệt được hoäc thuốc hoại chât, nguyên liệu. Do hoàn cảnh đó nên n¿àănh dược của ta hic bay gid mang tinh chat phục vụ là chủ yều, nhiệm vụ sản xuất, kimh đoanh chỉ là thứ yếu, mà nếu có sản xuàt thì cũng chỉ sản xuất bào chế, Có lê vì thế mà hệ thỏng các xí nghiệp được phẩm của ta từ các xí nghiệp được phẩm Trung ương: XN-I, XN-2, XN-3, XN-5, XN-2L1, XN-22, XN-23, XN-24, XN-25, XN-26,. đến các xí nghiệp được địa phương ở khấp 6l tinh thành đẻu chủ yếu là san xuất bào chế các loại thuộc viên, thuốc tiêm.
thuỏc mỡ, thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi., ít có mặt hàng sản xuất nguyên liệu, chỉ duy nhất một xí nghiệp (XN Hoá được) và một số cơ sử (Hoá chất Đức Giang) sản xuất nguyên liệu nhưng quy mô không lớn và chủ yếu là sản xuất các hoá được vỏ cơ được dụng (AI(OH),, BaSO,, MgSO,, NaC), Ca(CO:);, KCI|, CaCT|,); chưng cất một số tĩnh dầu (chàm, khuynh điệp. dầu bạc hà, quế, dầu sả, v.1; chiết xuất một số hoạt chất tir duve lieu (mio phine, tetrahidropalmatine, palmatine, becherine, phvtine, riutine. 2A); điều chế một sô thuốc và hoá chất hữu co (etanol được dụng, ete mẻ, cloroform, 0aracetamol, chetvlphtalare. metylsalicyÌate, codeine, axit salicylic, v.) ở qui mô nhỏ để sử dụng trong nước.