Chương 1: Một số vẫn đề chung về hình phạt tiền đối với PNTM phạm tội trong BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2017. Chương 2: Quy định về hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi năm 2017 và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về hình phạt tiền đối với PNTM phạm tội ở Việt Nam. CHUONG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE HiNH PHAT TIEN DOI VOI PHAP NHAN THUONG MAI PHAM TOI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 1.
Khái niệm, đặc điểm về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 1. Khái niệm hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội Trong xã hội ngày nay, pháp nhân được xem như một tiêu chí đánh giá mức độ tự do phát triển kinh tế và trình độ phát triển kinh tế của một đất nước. Pháp nhân là một chủ thể cơ bản tham gia vào các mỗi quan hệ dân sự - kinh tế thường xuyên và phô biến, vì vậy tác động đến nhiều lĩnh vực của xã hội. Pháp nhân được tạo thành bởi 2 từ Pháp (trong pháp luật) và Nhân (trong nhân cách con người).
Pháp nhân là tổ chức được thừa nhận là có nhân cách con người, tức là có đầy đủ đời sống pháp lý và có thể tham gia vào các mối quan hệ pháp luật giống như con người. Pháp nhân được ra đời từ mong muốn của các nhà đầu tư về một cơ chế góp vốn mà ở đó những người góp vốn chỉ phải bỏ ra một số vốn hữu hạn vào công ty, nếu công ty kinh doanh thất bại thì họ chỉ phải chịu rủi ro ít chỉ trong số vốn đó thôi, phần tài sản và sản nghiệp không đưa vào kinh doanh của họ vẫn an toàn. Bởi vậy, ngay từ nguồn cội sinh ra nó, pháp nhân đã mang dấu ấn của một chủ thê được hư cấu dựa trên các quy định pháp luật, có tài sản riêng làm tiền đề cho việc gánh vác các nghĩa vụ độc lập trong các giao dịch với các chủ thê khác. Từ những yếu tố trên, pháp luật công nhận và đảm bảo công khai các khả năng chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản riêng của pháp nhân.
Theo BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 được ban hành, Việt Nam quy định pháp nhân thương mại là một trong hai chủ thể phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự và chịu hình phạt theo quy định của Chương XI và theo các quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này, cụ thể, Khoản 2 điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 da quy dinh: “Chi phdp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại diéu 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này phù hợp với chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp; phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước sau Hiến pháp năm 2013, phát huy vai trò của BLHS với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật của pháp nhân, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Pháp nhân thương mại là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đương nhiên sẽ chịu hình phạt theo quy định của BLHS, theo đó, khái niệm hình phạt có thể được định nghĩa như sau:” Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội là biện pháp cưỡng chế vẻ hình sự nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án áp dụng đối với chủ thể bị kết án này với nội dụng tước bỏ những lợi ích kinh tế, tài chính. đảm bảo tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và an nỉnh, trật tự, an toàn xã hội.
” Theo Điều 33 BLHS năm 2015 quy định hệ thống hình phạt áp dụng đối với PNTM phạm tội bên cạnh hệ thống hình phạt đối với người phạm tội là rất đa dạng, bao gồm các hình phạt chính và hình phạt bổ sung, Khoản | cua bộ luật xác định hình phạt chính đối với PNTM gồm có: Hình phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Các hình phạt bổ sung đối với PNTM phạm tội bao gồm: Cam kinh doanh, cắm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 80 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017); Cấm huy động vốn (Điều 81, BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017); Phạt tiền (Điều 77, BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017, khi không áp dụng là hình phạt chính. Đặc điểm của hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội Các hình phạt chính đối với PNTM phạm tội bao gồm: Hình phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, trong đó: Đình chỉ hoạt động có thời hạn theo Điều 78, BLHS năm 2015, sửa đôi năm 2017 quy định: “1. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm lội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.
Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm. ” Đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự do Tòa án quyết định ban hành áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị kết án, bắt buộc PNTM phạm tội phải tạm dừng hoạt động kinh doanh trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định nhằm giáo dục, ngăn ngừa pháp nhân đó phạm tội mới gây nguy hại cho xã hội , thực hiện biện pháp phòng ngừa chung. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo Điều 79, BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định như sau: “1. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm lội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cô môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an nỉnh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.
Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ đề thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động. ” Nội dung của hình phạt này là chấm dứt vĩnh viễn hoạt động của PNTM phạm tội, tuy nhiên phạm vi chấm dứt hoạt động còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thê để thi hành. Các hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội như: Cắm kinh doanh, cắm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo Điều 80, BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định: “1. Cam kinh doanh, cam hoat dong trong mot sỐ lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tỉnh mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.
Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cắm kinh doanh hoặc cắm hoạt động. Thời hạn cắm kinh doanh, cấm hoạt dong trong mot số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. ” Cấm kinh doanh , cắm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự do Tòa án ban hành và được áp dụng kèm theo hình phạt chính trong bản án đối với pháp nhân thương mại phạm tội, nhằm không cho phép pháp nhân thương mại đó kinh doanh hoặc hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định để củng cố , tăng cường hiệu quả của hình phạt chính , ngăn ngừa pháp nhân thương mại bi kết án lợi dụng hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới , gây nguy hại cho con người và xã hội. Theo Điều 8I BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 quy định, Cấm huy động vốn: “1.
Cẩm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cắm huy động vốn bao gồm: a) Cam vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đâu tư b) Cám phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cẩm huy động vốn khách hàng; d) Cam liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; ä) Cám hình thành quỹ tín thác bat động sản. Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định tại khoản 2 Điều này. Thời hạn cam huy động vốn là từ 01 năm đến 03 nam, ké từ ngày bản an có hiệu lực pháp luật.
” Cấm huy động vốn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự do Tòa án quyết định áp dụng kèm theo hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại bị kết án với nội dung là không cho phép pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục huy động vốn nhằm ngăn ngừa pháp nhân thương mại bị kết án đó lợi dụng việc huy động vốn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới , gây nguy hại cho xã hội Từ những điều trên có thể thấy, hệ thống các hình phạt đối với đối tượng phạm tội truyền thống và hệ thống hình phạt đối với PNTM phạm tội đều có những điểm chung sau đây: Thứ nhát, hệ thông hình phạt đều là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do Nhà nước ban hành. Hệ thống hình phạt đối với chủ thể là cá nhân hay PNTM phạm tội là các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc do Nhà nước ban hành, đại biểu ý chí cao nhất của Nhà nước đối với hành vi phạm tội của người hoặc PNTM phạm tội, là công cụ hữu hiệu đề bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân. Tính nghiêm khắc của hình phạt được thể hiện ở chỗ nó tước đi một phần hoặc hoàn toàn các quyền tự do, tài sản, chính trị, thậm chí cả quyền sống. Đối với PNTM phạm tội, tính nghiêm khắc thể hiện ở chỗ nó tước đi một phần tài sản, quyền kinh doanh trong thời hạn nhất định hoặc vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, hình phạt cũng dé lại án tích cho người hoặc PNTM phạm tội.