Chương 1: Những vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam Chương 2: Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới Chương 3: Một số kinh nghiệm của pháp luật hình sự các nước trong việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội Khái niệm người chưa thành niên (NCTN) phạm tội được tiếp cận dưới hai góc độ: pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia như sau: Khái niệm về NCTN phạm tội theo pháp luật quốc tế Tại Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 nêu rõ: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, CRC không quy định thuật ngữ “NCTN” mà thay vào đó là sử dụng thuật ngữ trẻ em. Mặt khác, tại Quy tắc số 2.2 mục a Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 xác định: “NCTN là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội, theo một phương thức khác với người lớn”. Theo Quy tắc Bắc Kinh, NCTN được hiểu là trẻ em hoặc thanh thiếu niên.
Theo Quy tắc 2.1 mục a Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 quy định: “NCTN là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp luật quy định”. Như vậy, mặc dù các văn bản pháp luật quốc tế sử dụng khái niệm trẻ em và khái niệm NCTN nhưng giữa các văn kiện này đều có sự thống nhất khi giới hạn rõ về độ tuổi của trẻ em và NCTN đều là người dưới 18 tuổi. Từ khái niệm NCTN như trên, Quy tắc số 2.2c Quy tắc Bắc Kinh quy định: “NCTN phạm tội là trẻ em hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là đã phạm tội”.
Đồng thời Quy tắc 4 Quy tắc Bắc Kinh cũng nêu rõ về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS): “Tuổi chịu TNHS của NCTN thì không được quy định quá thấp tuổi bắt đầu phải chịu TNHS, mà cần lưu ý đến thực tế của độ trưởng thành về trí tuệ, tinh thần và tình cảm của người phải chịu TNHS”. Các văn bản pháp luật quốc tế không quy định cụ thể độ tuổi để được 9 coi là NCTN phạm tội mà thay vào đó là quy định mở cho các quốc gia trong việc quy định độ tuổi chịu TNHS. Chẳng hạn, ở những quốc gia tồn tại hai giới hạn độ tuổi tối thiểu chịu TNHS, độ tuổi tối thiểu trên và độ tuổi tối thiểu dưới thì độ tuổi tối thiểu của TNHS phải được xác định theo hai mức. Theo đó, người đạt được độ tuổi tối thiểu dưới nhưng chưa đạt độ tuổi tối thiểu trên nếu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì phải chịu TNHS về một số tội phạm cụ thể hoặc trong một số trường hợp cụ thể.
Người đạt độ tuổi tối thiểu trên phải chịu TNHS trong mọi trường hợp.1 Độ tuổi tối thiểu của TNHS đầy đủ cũng không được định nghĩa rõ ràng trong các văn kiện pháp lý, nhưng được hiểu khá thống nhất là 18 tuổi.2 Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, NCTN phạm tội được hiểu là người dưới 18 tuổi và khi thực hiện hành vi phạm tội, NCTN phạm tội không đủ tuổi chịu TNHS đầy đủ theo quy định của pháp luật. Khái niệm về NCTN phạm tội theo pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt Nam hiện nay, khái niệm NCTN và khái niệm trẻ em là hai khái niệm riêng biệt, cụ thể: Khái niệm NCTN được quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu rõ: “NCTN là người chưa đủ mười tám tuổi”. Như vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2015, NCTN là người dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”.
Tương tự Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng giới hạn độ tuổi được xem là NCTN là dưới 18 tuổi. Theo khoản 3 Điều 143 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) cũng quy định về độ tuổi để xác định NCTN bị xử phạt vi phạm hành chính là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 lại không sử dụng thuật ngữ “NCTN” mà thay vào đó là sử dụng khái niệm trẻ em, cụ thể: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Theo pháp luật Việt Nam, độ tuổi của trẻ 1 Nguyễn Thị Hồng Thanh (2020), Áp dung hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.
2 Phạm Thị Thanh Nga (2014), “Thực thi Công ước Quyền trẻ em ở Việt Nam: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 18, tr. 10 em sẽ được quy định nhỏ hơn so với độ tuổi của người chưa thành niên. Như vậy, trẻ em có thể là NCTN nhưng NCTN chưa chắc đã là trẻ em. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam, thuật ngữ NCTN được đề cập dưới hai phương diện: (1) NCTN là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt bằng luật hình sự khỏi những hành vi bị coi là tội phạm; (2) NCTN là chủ thể tội phạm.3 Trước đây, BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 sử dụng thuật ngữ “NCTN” nhưng đến BLHS năm 2015 đã thay thế bằng một thuật ngữ khác để chỉ đối tượng đặc thù này là “người dưới 18 tuổi”.
Việc thay đổi thuật ngữ không làm thay đổi bản chất của các khái niệm này. Về cơ bản, sự thay đổi này nhằm mục đích thống nhất các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và phù hợp với pháp luật quốc tế để tránh có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm NCTN và trẻ em. Do đó, trong BLHS năm 2015, NCTN phạm tội được hiểu là người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu TNHS và Điều 90 BLHS năm 2015 về áp dụng BLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm hai nhóm đối tượng thuộc hai nhóm tuổi sau đây: - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong một số tội phạm cụ thể được quy định tại BLHS năm 2015. Trên cơ sở quy định tại Điều 12 và Điều 90 BLHS năm 2015 có thể hiểu theo pháp luật hình sự Việt Nam, NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực TNHS, thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS và đang bị buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.2 Những vấn đề lý luận về hình phạt đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), GS. Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb.Công an nhân dân, tr.1 Khái niệm và đặc điểm của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Khái niệm hình phạt đối với NCTN phạm tội Trong lịch sử lập pháp của nước ta, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được quy định tại Điều 26 BLHS năm 1999: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết địnn”.
Sau đó, tại Điều 30 BLHS năm 2015 chỉ bổ sung thêm chủ thể là pháp nhân thương mại vào khái niệm hình phạt, cụ thể: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”. Mặc dù khái niệm hình phạt theo BLHS năm 2015 đã có sự thay đổi nhất định nhưng về bản chất, hình phạt vẫn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ có Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét xử và ra quyết định áp dụng hình phạt. Hình phạt là một chế định quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả mục đích của Luật Hình sự.
Như vậy, khái niệm hình phạt đối với NCTN phạm tội được hiểu là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS năm 2015, do Tòa án có thẩm quyền xét xử và quyết định áp dụng đối với NCTN phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của NCTN phạm tội. Đặc điểm của hình phạt đối với NCTN phạm tội Xuất phát từ khái niệm hình phạt quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015, hình phạt đối với NCTN phạm tội ngoài các đặc điểm chung của hình phạt áp dụng đối với chủ thể phạm tội nói chung thì còn có các đặc điểm đặc thù nhất định. Hình phạt đối với NCTN phạm tội có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Bởi lẽ, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với các hành vi vi phạm pháp luật khác.