CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUY MÔ VÀ HIỆU QUẢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Khoản 3, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng (2010) quy định về khái niệm ngân hàng thương mại. Theo đó: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Bên cạnh đó, Khoản 12, Điều 4 cũng quy định thêm về khái niệm các hoạt động ngân hàng.
Theo đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ trong số: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo khái niệm của Luật các tổ chức tín dụng, có thể thấy hai chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (sau đây gọi tắt là NHTM) là trung gian tài chính và trung gian thanh toán. Theo Freixas và Rochet (2008), lý thuyết ngân hàng hiện đại phân loại NHTM theo các chức năng chính. Theo đó, một NHTM có thể thực hiện một hoặc nhiều trong số bốn chức năng chính như: (i) Cung cấp thanh khoản và các dịch vụ thanh toán; (ii) Chuyển đổi tài sản; (iii); Quản lý rủi ro; (iv) Sản xuất thông tin và giám sát người vay vốn.
Chức năng cung cấp thanh khoản và các dịch vụ thanh toán gồm các chức năng nhỏ hơn như chuyển đổi tiền tệ giữa các loại tiền tệ và các dịch vụ thanh toán từ các tài khoản khác nhau. Chức năng chuyển đổi tài sản thể hiện vai trò trung gian tài chính. Trong đó, NHTM sẽ huy động tiền gửi từ khách hàng để đầu tư vào các khoản cho vay, cụ thể được chia thành hai chức năng (i) Chuyển đổi chất lượng (quality transformation) khi NHTM cung cấp sản phẩm tiền gửi với lãi suất sau điều chỉnh rủi ro tốt hơn so với các khoản đầu tư khác mà nhà đầu từ nhỏ lẻ có thể có được. Điều này xảy ra vì tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính làm nhà đầu tư nhỏ lẻ khó có thể quản lý danh mục đầu tư của mình hiệu quả, trong khi NHTM có thể làm tốt điều này hơn so với người gửi tiền; (ii) Chuyển đổi kỳ hạn (maturity transformation) khi NHTM thường sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn để sản xuất các loại tài sản dài hạn hơn như các khoản cho vay kém thanh khoản hơn nhằm thu lợi nhuận từ chênh lệch kỳ hạn.
Chức năng quản lý rủi ro quản lý các loại rủi ro đối với hoạt động ngân hàng. Các hoạt động ngoại bảng (off-balance-sheet operations) như các cam kết tín dụng, 8 bảo lãnh hay các loại hợp đồng phái sinh cũng là các đối tượng của chức năng này. Các hoạt động ngoại bảng giúp NHTM có được các nguồn thu ngoài lãi từ phí dịch vụ, hoa hồng, thu nhập từ kinh doanh ngoại hối, chứng khoán hóa khoản vay còn gọi là các nguồn thu từ các hoạt động phi truyền thống. Chức năng sản xuất thông tin và giám sát người vay vốn: vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính hàm ý bên đi vay thường có các thông tin mà bên cho vay chưa biết hoặc chưa nhận thức được đầy đủ.
Vấn đề này không loại trừ trường hợp NHTM là bên cho vay. Để giảm thiểu rủi ro đạo đức và rủi ro về thông tin bất cân xứng từ bên đi vay, NHTM phải phát triển quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn cũng như việc giám sát quá trình hoạt động của bên đi vay. Điều này cho phép NHTM khai thác được thêm thông tin của bên đi vay mà trước đó chưa có trên thị trường, đồng thời tạo điều kiện phát triển mối quan hệ dài hạn (long-term relationship) giữa NHTM và khách hàng để giảm thiểu các rủi ro trên (Mayer, 1988). Giá trị khoản vay giữa NHTM và khách hàng được đánh giá dựa trên mối quan hệ dài hạn này do đó khó có thể xác định rõ ràng (opaque), khác với giá các chứng khoán nợ khác trên thị trường tài chính vốn được xác định dựa trên thông tin của thị trường (Merton, 1993).
Khái niệm và đo lường hiệu quả của ngân hàng thương mại Giống như các doanh nghiệp khác, NHTM hoạt động để có được lợi nhuận là chênh lệch giữa thu nhập với chi phí của chúng. Thu nhập và chi phí của NHTM được phân loại thành hai phần theo loại hoạt động của chúng. Thu nhập/chi phí từ lãi (interest income/expenses) có được từ các hoạt động truyền thống như tín dụng và huy động vốn; Thu nhập/chi phí ngoài lãi (non-interest income/expenses) từ các hoạt động phi truyền thống như phí, thu nhập từ các loại phí dịch vụ, giao dịch ngoại hối, hoạt động phái sinh, chứng khoán hóa, hoa hồng bảo hiểm, bảo lãnh. Các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả của NHTM có thể được phân loại theo hai hướng tiếp cận: (i) Hiệu quả tài chính (bank performance hoặc profitability) hay còn được biết đến là cách tiếp cận phi cấu trúc và (ii) Hiệu quả hoạt động (bank efficiency) hay còn được biết đến là cách tiếp cận cấu trúc.
Hiệu quả tài chính của NHTM thường được đo lường bằng các tiêu chí như: lợi nhuận trên tổng tài sản (return on assets – ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (return on equity- ROE), thu nhập lãi cận biên (net interest income - NIM). Trong một số trường hợp, để làm trơn sự biến động của dữ liệu trong năm tài chính (có thể phát sinh do tính mùa vụ trong năm), ROA và ROE có thể thay thế tương ứng bằng ROAA (return on average assests) hoặc ROAE (return on average equity). Cách tiếp cận này 9 còn được biết đến là cách tiếp cận phi cấu trúc (Hughes và Mester, 2013b). ROA phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của NHTM trong việc thu được lợi nhuận, trong khi đó ROE phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu do cổ đông đóng góp.
Hai tiêu chí đều có nhược điểm nội tại, ROA dù là tiêu chí thường được sử dụng nhiều nhất khi đo lường hiệu quả tài chính của NHTM (Olson và Zoubi, 2011), tuy nhiên nó tổng hợp bất cân xứng hiệu quả mà lợi nhuận từ lãi và lợi nhuận ngoài lãi của NHTM. Bởi vì tổng tài sản (total assets) được sử dụng trong công thức tính ROA không tính tới các hoạt động ngoại bảng (phi truyền thống), trong khi lợi nhuận từ các hoạt động này là một thành phần cấu thành lợi nhuận của NHTM1. ROE không tính tới rủi ro đi cùng với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và tác động của các quy định về đòn bẩy tài chính (hoặc tỷ lệ an toàn vốn) (Dietrich và Wanzenried, 2011). NHTM có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản lớn (đòn bẩy tài chính thấp) thường có ROE thấp trong khi ROA khá cao.
NIM được tính bằng tỷ lệ của chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi phải trả trên tổng tài sản sinh lãi (tổng tài sản). Nếu tỷ lệ này âm cho thấy tổng chi phí lãi mà NHTM phải trả cao hơn thu nhập từ lãi, do đó hoạt động thiếu hiệu quả. Theo cách tiếp cận hiệu quả hoạt động, Farrell (1957) đưa ra khái niệm hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency - TE) của doanh nghiệp nói chung. Theo đó, thước đo này phản ánh năng lực của doanh nghiệp trong việc chuyển đổi các đầu vào (inputs) thành sản lượng đầu ra (outputs).1 thể hiện mô hình đơn giản gồm hai đầu vào (X1 và X2) và một đầu ra (Y), trong đó đường đẳng lượng SS’ thể hiện các cách kết hợp X1 và X2 đều cho cùng một sản lượng đầu ra.
Dưới điều kiện hiệu quả không đổi theo quy mô (constant return to scale- CRS)2 chỉ có trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, đây là đường tối thiểu hóa quy mô đầu vào ứng với một sản lượng đầu ra nhất định. Giá trị OQ trong trường hợp này thể hiện điểm hiệu quả kỹ thuật. Điểm P nằm phía trên, bên phải đường đẳng lượng cho biết đây là vị trí phi hiệu quả kỹ thuật đối với doanh nghiệp. Cụ thể, doanh nghiệp sản xuất tại điểm P có cùng sản lượng với điểm Q, trong khi lượng đầu vào cần thiết nhiều hơn.
Khi đó tỷ lệ phi hiệu quả kỹ thuật (techinal inefficiency rate) là TI = QP/OP, trong khi mức độ hiệu quả kỹ thuật mà doanh nghiệp đạt được trong trường hợp này là TE = OQ/OP. Trong trường hợp P trùng Q, giá trị này bằng 1 giá trị thể hiện hiệu quả kỹ thuật hoàn hảo. Như vậy, mức độ hiệu quả kỹ thuật mà doanh nghiệp đạt được trong trường hợp thị trường cạnh tranh hoàn hảo và giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô thuộc khoảng 0 đến 1. 1 Tổng thanh khoản được tạo (liquidity creation) theo Berger và Bouwman (2009) sẽ phù hợp hơn Total Asset.
2 Giả thiết này có nghĩa một tỷ lệ tăng/giảm đầu vào sẽ cho kết quả đầu ra tăng/giảm cùng tỷ lệ.1: Hiệu quả kỹ thuật trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Nguồn: Coelli (1996) Giả thiết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo và hiệu quả không đổi theo quy mô không thực tế. Trong điều kiện hiệu quả biến đổi theo quy mô (variable return to scale- VRS), khái niệm hiệu quả kỹ thuật được phân tách thành hiệu quả kỹ thuật thuần túy (pure technical efficiency – PTE) và hiệu quả theo quy mô (scale efficiency – SE), được minh họa trong Hình 1.2, đường CRS thể hiện đường đẳng lượng trong trường hợp hiệu quả không đổi theo quy mô của doanh nghiệp có đầu vào X là đầu ra là Y. Tương tự trường hợp đầu tiên, mức độ hiệu quả kỹ thuật mà điểm P đạt được là TE = APc/ AP, mức độ phi hiệu quả kỹ thuật là TI = PPc/AP. Bên cạnh đó, đường VRS thể hiện cho đường đẳng lượng trong trường hợp hiệu quả kỹ thuật biến đổi trong thị trường không cạnh tranh hoàn hảo.
VRS luôn nằm bên phải CRS thể hiện sự phi hiệu quả kỹ thuật theo các giả thiết ban đầu. Với cùng một mức đầu ra A, ta sẽ có mức độ hiệu quả kỹ thuật thuần túy là PTE = APv/ AP đại diện cho hiệu quả kỹ thuật đối với riêng đường VRS. Hiệu quả theo quy mô đại diện cho mức độ hiệu quả của đường VRS so với đường CRS, có giá trị bằng SE = APc/ APv, mức độ phi hiệu quả theo quy mô (scale inefficiency) trong trường hợp này là SI = PcPv/ APv. Dưới các điều kiện VRS, SE sẽ có giá trị nhỏ hơn 1, hay nói cách khác SI > 0, tức doanh nghiệp sẽ có mức độ phi hiệu quả theo quy mô nhất định.