CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về tái cơ cấu của ngân hàng thương mại 1. Tái cơ cấu ngân hàng thương mại Tái cơ cấu là việc sắp xếp lại, củng cố lại một số phần toàn bộ một tổ chức, một đơn vị, một hoạt động, một lĩnh vực,. nào đó nhằm đạt được các mục tiêu nhất định.
Ngân hàng Thế giới World Bank (1998), tái cơ cấu ngân hàng bao gồm hàng loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Như vậy, có thể hiểu tái cơ cấu NHTM là quá trình thực hiện các biện pháp khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống NHTM nhằm duy trì sự phát triển ổn định, bền vững, nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM và phát huy vai trò của NHTM trong nền kinh tế. Hoạt động tái cơ cấu NHTM chỉ tiến hành khi có những vấn đề nổi lên trong hoạt động của các NHTM hoặc trong nền kinh tế như khủng hoảng kinh tế; nợ xấu gia tăng; tỷ lệ an toàn vốn thấp, niềm tin công chúng thấp, giám sát và quản lý yếu… 1. Sự cần thiết của tái cơ cấu Hệ thống NHTM là hệ thống trung gian tài chính của nền kinh tế, có tác động đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Trong tình hình nền kinh tế thế giới và trong nước khá khó khăn, khủng hoảng kinh tế gây hậu quả nặng nề và dai dẳng, nợ xấu gia tăng, niềm tin công chúng xuống thấp… vấn đề tái cơ cấu NHTM là hết sức cần thiết. Tái cơ cấu hệ thống NHTM đảm bảo quyền lợi và niềm tin cho công chúng và sự ổn định cho các NHTM, nâng cao vai trò, vị trí của hệ thống NHTM trong nền kinh tế. z 10 Tái cơ cấu hệ thống NHTM giúp củng cố, phát triển hệ thống NHTM đa dạng về quy mô, loại hình để phát triển ổn định và bền vững với nền kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển; tăng khả năng cạnh tranh. Tái cơ cấu NHTM nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém của từng NHTM và của cả hệ thống NHTM.
Qua đó từng NHTM tự kiện toàn để chủ động trước những thách thức, giúp hoạt động kinh doanh ngày càng an toàn, hiệu quả, ổn định và đáp ứng yêu cầu phát triển trong những giai đoạn khác nhau. Từng NHTM hoạt động ổn định, hiệu quả sẽ góp phần phát triển hệ thống NHTM và nền kinh tế quốc gia, khu vực và thế giới. Mục tiêu tái cơ cấu ngân hàng thương mại Tái cơ cấu NHTM nhằm mục tiêu khôi phục lại khả năng thanh toán và sinh lời. Tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các NHTM; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của NHTM, nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng.
Phấn đấu hình thành các NHTM có quy mô và trình độ tương đương các ngân hàng trong khu vực; nâng cao năng lực làm vai trò trung gian tài chính của các ngân hàng và khôi phục lại niềm tin của công chúng. Tái cơ cấu hoạt động của hệ thống NHTM để đảm bảo giữa cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ của nền kinh tế một cách hợp lý. Phải cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng mới có thể phát triển được hệ thống NHTM đa năng, hiện đại hóa, hoạt động hiệu quả, an toàn; đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình, tăng khả năng cạnh tranh, trình độ công nghệ thông tin, quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế tương xứng với các nước trong khu vực và trên Thế giới. Nội dung tái cơ cấu ngân hàng thương mại Nội dung tái cơ cấu NHTM bao gồm các hoạt động tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu hệ thống quản trị: z 11 - Tái cơ cấu tài chính của NHTM là tăng quy mô, chất lượng, vốn tự có của các NHTM và xử lý nợ xấu.
Do đặc điểm của loại hình kinh doanh ngân hàng vốn tự có chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn kinh doanh nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM. Quy mô và chất lượng vốn tự có của NHTM tạo nền tảng cho hoạt động, đảm bảo sự an toàn, duy trì niềm tin và điều chỉnh hoạt động của NHTM. Trong quá trình tái cơ cấu tài chính NHTM, một nội dung hết sức quan trọng là phải biết chính xác số nợ xấu để có các bước xử lý có hiệu quả. Xử lý nợ xấu có thể cấu trúc lại nợ, xử lý tài sản đảm bảo, bán cho công ty mua bán nợ, chuyển thành vốn góp… - Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh NHTM là củng cố, chấn chỉnh lại hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM và đáp ứng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của các NHTM bao gồm các nội dung: tái cơ cấu về dịch vụ; nhân sự; công nghệ; mô hình tổ chức hoạt động - Tái cơ cấu hệ thống quản trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với NHTM, bởi tính đặc thù là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, nên có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế 1. Các hình thức tái cơ cấu Các hình thức tái cơ cấu NHTM bao gồm: tái cơ cấu tài chính, tái cơ cấu hoạt động, tái cơ cấu thể chế. Trong đó, tái cơ cấu tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanh toán bằng cách cải thiện bảng cân đối tài sản thông qua các biện pháp tăng vốn tự có, xử lý nợ xấu. Tái cơ cấu hoạt động hướng đến tăng khả năng sinh lời bằng chiến lược kinh doanh, tinh giảm biên chế, quản trị điều hành, cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức.
Tái cơ cấu thể chế nhằm nâng cao năng lực thể chế bằng hệ thống giám sát, quản lý, bảo hiểm tiền gửi, cơ chế người cho vay cuối cùng. Hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 1. Hiệu quả tài chính và vai trò của phân tích hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp cùng hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả tài chính của các NHTM là một phạm trù hiệu quả kinh tế - tài chính, phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh của các NHTM; là khả năng đạt mục tiêu kinh doanh của NHTM trên cơ sở thiết lập, tổ chức điều hành chiến lược, chính sách, chương trình trong hoạt động kinh doanh.
Đối tượng của phân tích hiệu quả tài chính của một NHTM là kết quả kinh doanh của NHTM đó được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế. Đối tượng phân tích có thể là kết quả kinh doanh của từng lĩnh vực hoạt động như dư nợ cho vay, doanh số huy động hoặc là kết quả kinh doanh cũng như lợi nhuận. Phân tích hiệu quả tài chính của NHTM được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó thông tin số liệu kế toán là cơ sở quan trọng nền móng ban đầu cho việc phân tích. việc phân tích cẩn thận Bảng tổng kết tài sản và Báo cáo kết quả HĐKD cho chúng ta hiểu rõ hiệu quả tài chính của một NHTM.
Phân tích hiệu quả tài chính là việc làm tất yếu đối với từng NHTM và là khâu quan trọng trong công tác quản trị NHTM để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo tiền đề cho sự phát triển chung cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam tương xứng hệ thống ngân hàng các nước trong khu vực cũng như quốc tế. Tóm lại, phân tích hiệu quả tài chính ngân hàng mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hiệu quả tài chính ngân hàng, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động của ngân hàng, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính ngân hàng thương mại 1. Tỷ lệ tài sản có sinh lời (Yield on Earning Assets - YOEA) Tỷ lệ tài sản có sinh lời là một thước đo về khả năng thanh toán của một tổ chức tài chính được các nhà quản lý ngân hàng sử dụng.
Tỷ lệ này được tính bằng theo tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập từ lãi, cổ tức và thu nhập từ các khoản cho vay và đầu tư của tài sản có sinh lãi bình quân. Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự YOEA = Tài sản Có sinh lãi bình quân Trong đó: Tài sản có sinh lãi là nguồn tạo thu nhập chính của hầu hết các ngân hàng. Tài sản có sinh lãi = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi tại các TCTD khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng. Tỷ lệ tài sản có sinh lời (YOEA) phụ thuộc nhất định vào mức lãi suất chung, YOEA có thể biến động mạnh qua từng giai đoạn.
Nếu YEOA quá cao so với các ngân hàng khác có thể cho thấy mức độ sinh lời từ tài sản có, nhưng cũng thể hiện mức độ rủi ro cao của danh mục tài sản có sinh lãi, đặc biệt là các khoản vay. Trong khi đó, YOEA thấp có thể hàm ý rằng ngân hàng đang sở hữu một danh mục tài sản có ít hiệu quả, khả năng đem lại lợi nhuận thấp. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) được tính bằng cách lấy tổng thu nhập lãi ròng từ cho vay và đầu tư chia cho tổng tài sản sinh lời.