CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về kinh tế hộ, hiệu quả kinh tế sản xuất cây bưởi 1. Khái niệm về hộ gia đình, kinh tế hộ, kinh tế trang trại - Hộ gia đình: là tập những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống, cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống… - Kinh tế hộ: là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của lợi hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hóa để bán) - Kinh tế trang trại: là một hình thức của kinh tế hộ gia đình, nhưng quy mô và tính chất sản xuất hoàn toàn khác. Tính chất sản xuất chủ yếu của trang trại là sản xuất hàng hóa, tức là sản xuất nhằm đáp ứng nhue cầu của thị trường.
Cũng chính vì vậy mà quy mô sản xuất của trang trại thường lướn hơn nhiều so với kinh tế hộ. Các quan điểm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển kinh tế. HQKT được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm kinh tế truyền thống và quan điểm kinh tế tân cổ điển cùng tồn tại. - Quan điểm truyền thống: quan điểm này cho rằng HQKT là phần còn lại của hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí.
Nó được đo bằng các chỉ tiêu lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỉ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.
Các quan điểm truyền thống trên khi xem xét HQKT đã coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó, hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng không những cho phép ta xem xét kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta quyết định nên đầu tư cho sản xuất bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ. Mặt 4 khác, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, thu và chi trong tính toán HQKT thường chưa tính đủ và chính xác. Ngoài ra, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả xã hội và môi trường, có những phần thu và những khoản chi khó lượng hóa thì không thể phản ánh được trong cách tính này. (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), Kinh tế học vi mô, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội) [12] - Xét HQKT trong trạng thái tĩnh HQKT được xác định bằng tỷ số giữa các kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để có được kết quả đó, bao gồm nhân lực và vật lực. Q Công thức: H= C Trong đó: H: HQKT Q: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra Theo Culicop, HQKT là kết quả của một nền sản xuất nhất định, tức là đem so sánh kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Ta lấy tổng giá trị sản phẩm chia cho vốn sản xuất ta được hiệu suất vốn, tổng giá trị sản phẩm chia cho vốn vật tư ta được hiệu suất vật tư, tổng giá trị sản lượng chia cho chi phí, ta được hiệu suất chi phí… Ưu điểm: Chỉ tiêu này chỉ rõ các mức độ, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau giúp ta so sánh được kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một cách dễ dàng, so sánh HQKT giữa các quy mô khác nhau. Nhược điểm: Chỉ tiêu này không thể hiện được quy mô của HQKT nói chung. Tại Việt Nam, một số tác giả cho rằng HQKT là so sánh kết quả cả chi phí sản xuất, đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh. (Trường Đại học kinh tế quốc dân (2012), Kinh tế nông nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội) [15] - Quan điểm của các nhà tân cổ điển về hiệu quả kinh tế: Theo các nhà kinh tế tân cổ điển như Luyn Squire, Herman Gvander Tack.
thì HQKT phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế, dùng chỉ tiêu HQKT để xem xét trong 5 việc đề ra các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh. HQKT không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và môi trường. Chính vì thế nên khái niệm về thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và chi phí.
- Xét theo mối quan hề động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật: là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư thêm. Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên chi phí tăng thêm. Tỷ số này gọi là sản phẩm biên.
Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất. Hiệu quả phân bổ: là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Nó là hiệu quả kỹ thuật nhân với giá sản phẩm và giá đầu vào.
Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên. Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt HQKT.
Chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ khi đó sản xuất mới đạt được HQKT. - Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau, bởi thời gian bỏ vốn đầu tư khác nhau thì thời gian thu hồi vốn khác nhau. Tuy nhiên để hiểu rõ thế nào là HQKT, cần phải tránh những sai lầm như đồng nhất giữa kết quả và HQKT; đồng nhất giữa HQKT với các chỉ tiêu đo lường HQKT hoặc quan niệm cũ về HQKT đã lạc hậu không phù hợp với hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường: 6 Thứ nhất, kết quả kinh tế và HQKT là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. HQKT là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được.
Còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi. Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả là tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu bán hàng. Nhưng kết quả này chưa nói lên được nó tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí là bao nhiêu? Và như vậy nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất hoặc trình độ của nền kinh tế quốc dân. Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và các nguồn lực khác.
Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất cao và nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo Mác thì đây là cơ sở để phân biện trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác. Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường HQKT. HQKT vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể.
- Là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân. Các yếu tố cấu thành của nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Với nghĩa này thì HQKT phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội. Tính trừu tượng của phạm trù HQKT thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả cao nhất ở đầu ra.
- Là phạm trù cụ thể vì nó có thể đo lượng được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí nó bỏ ra. Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của HQKT. Thông qua các chỉ tiêu thống kê kế toán có thể xác định được hệ thống chỉ tiêu đo lường HQKT. Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó của HQKT trên phạm vi mà nó được tính toán.
Hệ thống chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá 7 trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh. Nó bao gồm hai mặt định tính và định lượng.