Chương 1 cũng đã nêu cụ thể các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài và kết cấu 5 phần của bài luận văn. 123doc -6- CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI Ở chương này, tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, cơ sở lý thuyết về hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài. Ngoài ra, tác giả còn lược khảo một số nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của các NHTM Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm ba phần.
Đầu tiên là những quan điểm liên quan đến khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Sau đó phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, và cuối cùng tác giả trình bày các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp”, tác giả Ngô Đình Giao cho rằng “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. Điều này thể hiện sự tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó (Farrell, 1957). Hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Draft, 2008). 123doc -7- Các quan điểm trên đều nhận định về hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào để đạt được thành quả cao với chi phí thấp, thành quả đạt được càng cao với chi phí càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Hiệu quả kinh doanh còn được so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Với cùng điều kiện về các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp có khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có tính khan hiếm thành khả năng sinh lời, với chi phí thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả kinh doanh cao hơn. Trong bài báo cáo “Beyond ROE – How to measure bank performance” của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (European Central Bank, 2010), khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững được cho là một định nghĩa để mô tả hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Mặc dù các tổ chức ngân hàng ngày càng phát triển và trở nên phức tạp, nhưng các yếu tố chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng vẫn là lợi nhuận, năng lực, sự chấp nhận rủi ro và đòn bẩy. Một điều rõ ràng là một ngân hàng phải có khả năng tạo ra lợi nhuận.
Năng lực của ngân hàng thương mại đề cập đến khả năng mà ngân hàng có thể tạo ra doanh thu từ tài sản của chính nó và tạo ra lợi nhuận từ các nguồn lực. Sự chấp nhận rủi ro được phản ánh trong việc điều chỉnh một cách cần thiết nguồn thu nhập cho những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện để tạo ra các nguồn thu nhập (ví dụ chi phí rủi ro tín dụng trong chu kỳ). Đòn bẩy có thể cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng theo xu hướng đi lên; nhưng ngược lại, nó cũng có nhiều khả năng làm cho một ngân hàng thất bại, do những thiệt hại bất ngờ. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ được đánh giá qua khả năng tạo lợi nhuận từ các nguồn lực sẵn, mà còn được đo lường bởi sự chấp nhận rủi ro của từng ngân hàng.
Vì đặc thù của các ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ, nên chứa đựng rất nhiều rủi ro, các ngân hàng thương mại cần có sự linh hoạt trong việc điều chỉnh các chính sách, biện pháp phòng ngừa đối với các rủi ro phát sinh thì hoạt động kinh doanh sẽ đạt kết quả tốt, từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn.Rose 123doc -8- (2001), bản chất ngân hàng thương mại cũng là một tập đoàn kinh doanh được tổ chức vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận được. Bên cạnh đó, với điều kiện cùng nguồn lực sẵn có, ngân hàng có khả năng biến đổi nguồn lực thành khả năng sinh lời với chi phí thấp hơn thì hiệu quả kinh doanh đạt được cao hơn các ngân hàng trong hệ thống. Tuy nhiên, ngành ngân hàng là một ngành nhạy cảm không chỉ với hàng hóa là tiền tệ, mà hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại còn mang tính hệ thống cao. Tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế, hơn nữa, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng luôn mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh doanh khác.
Với sự ảnh hưởng dây chuyền như vậy, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất, trên cơ sở cùng tồn tại chứ không triệt tiêu lẫn nhau, vì nếu cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng thương mại sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ngành. Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh dựa trên các góc nhìn khác nhau. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Hiệu quả kinh doanh là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng thương mại, bởi vậy để ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Các yếu tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm yếu tố khách quan và nhóm yếu tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm yếu tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng thương mại. Nhóm yếu tố khách quan - Môi trường về kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Do vậy, những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng. Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, hiệu quả hoạt động của NHTM sẽ tốt hơn.
Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các lĩnh vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó nhu cầu vay vốn tăng, làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình. Đồng thời, khả năng nợ xấu có thể giảm, vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng được nâng cao. Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thì điều đó trở thành những yếu tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầu vay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt động của các NHTM. Hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Các nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau, thì sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới cũng sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các NHTM trong nước. - Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí. Thực tiễn cho thấy, sự phát triển của các nền kinh tế thị trường trên thế giới hàng trăm năm qua, đã minh chứng cho tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong việc điều hành nền kinh tế thị trường. Nếu hệ thống luật pháp được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng.
Một quốc gia có nền kinh tế phát triển bền vững bởi họ có một hệ thống luật khá đầy đủ và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình. 123doc -10- Những thay đổi về quy định pháp luật đối với ngành ngân hàng cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Các quy định đã che chở cho các công ty khỏi sự tác động của những biến động trong nhu cầu và chi phí, giảm bớt rủi ro (Sam Peltzman, 1976). Nếu đúng như vậy, điều này có nghĩa sự thay đổi của các quy định buộc ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lớn hơn.
Ví dụ như việc thay đổi các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng. Nếu quy định đưa ra yêu cầu các ngân hàng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ giúp cho khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tăng lên, tuy nhiên, bên cạnh đó ngân hàng thương mại phải rút bớt vốn kinh doanh để đưa vào dự trữ bắt buộc, điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.