CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng đối với nền kinh tế.
Các định nghĩa về ngân hàng dựa trên chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà nó thực hiện đối với nền kinh tế. Tùy theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã [3]. Khi đề cập đến khái niệm Ngân hàng thương mại, có rất nhiều phát biểu khác nhau tùy vào mỗi quốc gia. Chẳng hạn: - Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư.
[3] - Ở Pháp: NHTM là những doanh nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính. [3] - Ở Mỹ: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.Rose định nghĩa: Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. [8] - Ở Việt Nam: Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng”, Luật này còn định nghĩa: 2 “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. [15] Như vậy, có thể khái quát định nghĩa về NHTM như sau: NHTM là một loại hình doanh nghiệp được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Chức năng của ngân hàng thương mại NHTM có ba chức năng, đó là: chức năng thủ quỹ, chức năng trung gian thanh toán và chức năng trung gian tín dụng. - Chức năng thủ quỹ Thực hiện chức năng thủ quỹ, NHTM nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền của khách hàng là các chủ thể trong nền kinh tế.
Chức năng thủ quỹ có tác dụng khác nhau đối với từng chủ thể khác nhau: + Đối với khách hàng, có tác dụng giúp cho khách hàng gửi tiền không những đảm bảo an toàn cho đồng vốn tạm thời nhàn rỗi của mình mà còn có tác dụng sinh lời cho những đồng vốn đó, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. + Đối với ngân hàng, thực hiện chức năng thủ quỹ là cơ sở để ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán, đồng thời tạo nguồn vốn để ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tín dụng. + Đối với nền kinh tế, thông qua chức năng thủ quỹ của các ngân hàng thương mại, từ đó tập trung được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để phục vụ phát triển kinh tế, tiếp tục đầu tư sản xuất tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội. - Chức năng trung gian thanh toán Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng thủ quỹ của NHTM, tức là thay mặt khách hàng, ngân hàng trích tiền trong tài khoản trả cho người thụ hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản theo lệnh của chủ tài khoản.
Công việc của người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán. 3 Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn, từ đó đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương, mà nếu khách hàng tự thanh toán sẽ rất tốn kém (như những chi phí lưu thông tiền mặt: chi phí cho việc đúc tiền, in tiền, bảo quản tiền, vận chuyển tiền,…), khó khăn và không an toàn. Chức năng trung gian thanh toán là tiền đề và cơ sở để các NHTM tạo ra tiền ghi sổ, góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế, vừa tiết kiệm khối lượng tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển.
Mặt khác, chức năng trung gian thanh toán giúp tăng uy tín của ngân hàng lên thông qua các dịch vụ được khuyếch trương. - Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế. Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể thừa vốn và chủ thể có nhu cầu vay vốn gặp nhiều hạn chế về không gian, thời gian, khả năng thẩm định khách hàng, trình độ quản lý,… chính chức năng trung gian tín dụng của NHTM đã góp phần khắc phục hạn chế đó.
Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế, giúp điều hòa vốn từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt, làm giảm tối đa lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Đối với NHTM, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển, tạo nguồn vốn để ngân hàng kinh doanh và gia tăng lợi nhuận, đồng thời là cơ sở để NHTM tạo bút tệ. Đối với khách hàng gửi tiền, vừa giúp cho nguồn vốn nhàn rỗi tăng khả năng sinh lợi vừa đảm bảo an toàn vốn. Đối với khách hàng vay vốn, kịp thời thỏa mãn được nhu cầu vốn tạm thời 4 thiết hụt trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng vừa tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm nguồn vốn tiện lợi, an toàn và hợp pháp.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại NHTM hoạt động kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực: hoạt động huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng, hoạt động dịch vụ thanh toán, hoạt động ngân quỹ và các hoạt động kinh doanh khác. - Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM nhằm giải quyết "đầu vào", tức là hình thành nguồn vốn để ngân hàng kinh doanh. NHTM huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức tín dụng tại nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. - Hoạt động cấp tín dụng NHTM cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các hình thức khác.
Trong đó, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động: cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế cho khách hàng, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ,… Các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế thông qua ngân hàng ngày nay trở thành nhu cầu không thể thiếu của các chủ thể trong nền kinh tế, giúp cho hàng hóa được luân chuyển nhanh hơn, thúc đẩy các giao dịch ngoại thương phát triển. 5 - Hoạt động kinh doanh ngoại hối Hoạt động kinh doanh này của NHTM rất phát triển trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán trong hoạt động ngoại thương. Ngân hàng thực hiện mua, bán đồng tiền này để lấy đồng tiền khác nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Ngân hàng mua bán ngoại tệ theo các dạng hợp đồng: giao ngay (spot), kỳ hạn (forward), tương lai (future), quyền chọn (option). - Hoạt động kinh doanh khác Ngoài các hoạt động truyền thống như huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, kinh doanh ngoại hối, NHTM còn thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như góp vốn kinh doanh và mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá,… 1. LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “hiệu quả kinh doanh”, nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Xét trên khía cạnh hiệu quả kinh tế, có ý kiến cho rằng: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không tăng sản lượng một loại hàng hóa mà cũng không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó"[23].