Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả cho vay hộ nghèo; Chương 2: Thực trạng về hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Hà Giang. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO 1. Tổng quan về cho vay hộ nghèo 1. Khái niệm và nguyên nhân của nghèo 1.
Khái niệm nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa. Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác.
Tại các khu vực này, ngay cả một hộ gia đình có điều kiện kinh tế chi trả cho những dịch vụ kể trên cũng có thể gặp khó khăn về nguồn cung. Nói một cách khác, sự thiếu thốn vật chất còn thể hiện ở những khía cạnh về địa lý (UNDP, 2014). Theo Tổ chức Liên hợp quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh. 11 Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương”. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo, nhưng nhìn chung, các quan niệm nó điều được phản ánh trên các khía cạnh: Không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người, mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư địa phương; thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Để đánh giá rõ hơn về mức độ nghèo, người ta thường chia nghèo thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo thương đối.
Nghèo tuyệt đối (khía cạnh thu nhập): Đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được lương thực, thực phẩm tương đương 2.300 kcalo/người/ngày. Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hóa để mô tả trình trạng nghèo. Nghèo tương đối: là tình trạng sống dưới 1 mức tiêu chuẩn sống có thể chấp nhận được tại 1 địa điểm và thời gian xác định. Như vậy, nghèo tương đối có sự khác biệt tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội, quan niệm của từng quốc gia, khu vực, vùng miền khác nhau.
Từ những khái niệm, cách tiếp cận như trên, trong luận văn này có thể hiểu: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống (như ăn, mặc, ở, vệ sinh, giao dục, y tế, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng) và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Nguyên nhân của nghèo Nghèo là một hiện tượng mang tính lịch sử nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Nghèo ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người, xã hội và cộng đồng. Các nguyên nhân dẫn đến nghèo như các nguyên nhân thuộc về kinh tế, xã hội, thể chế, môi trường và địa lý.
Theo Hoàng Thị Hảo (2017), những nguyên nhân dẫn đến nghèo như sau: Nguyên nhân khách quan: Do điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết không thuận lợi, do đất đai cằn cỗi, địa hình dốc đồi núi hiểm trở khó canh tác, do sinh sống ở vùng sâu vùng xa chưa có các tuyến đường giao thông đi lại, do thiên tai, dịch bệnh bất ngờ… Do xuất phát điểm nền kinh tế thấp hoặc nền kinh tế kém phát triển. Cơ sở hạ tầng tối thiểu (giao thông thủy lợi thông tin điện thắp sang, nước sinh hoạt) chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, thiếu thị trường để lưu thông hàng hóa. Nguyên nhân chủ quan: Do bản thân người nghèo trình độ dân trí thấp, trình độ học vấn trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, do thiếu kinh nghiệm làm ăn hoặc không biết cách làm ăn, do lười biếng, nghiện ngập, do sức khỏe, do gia đình đông con cái, gặp phải rủi ro tai nạn ốm đau, do thiếu hoặc không có khả năng lao động, do thiếu hoặc không có vốn… Do chủ quan của các cấp chính quyền như thiếu năng lực trình độ chuyên môn hiểu biết, kinh nghiệm cũng như khả năng tài chính để có thể thường xuyên chăm lo quan tâm giúp đỡ hỗ trợ người nghèo giảm thiểu khó khăn… Nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế. 13 Trong các nguyên nhân thì nguyên nhân về kinh tế vẫn là quan trọng nhất, trình độ phát triển kinh tế của một nước, một vùng quyết định đến mức sống của người dân nước đó, vùng đó…Tuy nhiên không chỉ một nguyên nhân biệt lập riêng rẽ mà có thể dẫn tới nghèo kinh niên trên diện rộng được, mà nguyên nhân nghèo là có sự đan xen giữa chủ quan và khách quan.
Khái niệm cho vay hộ nghèo Là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, cho vay được xem là chức năng kinh tế hàng đầu và là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng. Thực tế cho thấy rằng, đối với hầu hết các ngân hàng, cho vay luôn là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một ngân hàng, đưa lại nguồn thu nhập lớn nhất (nhưng cũng rủi ro cao nhất) cho ngân hàng. Theo Phan Thị Cúc (2008): “Cho vay của NHTM là chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và tài sản từ NHTM cho khách hàng trong mội thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013): “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi”.
Đối với cho vay hộ nghèo, đó là việc Nhà nước sẽ tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để dùng vào mục đích cho vay các hộ nghèo, tạo việc làm, cho vay các hộ sản xuất kinh doanh (SXKD), các tổ chức kinh tế ở vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, để họ có nguồn vốn phục vụ cho SXKD, tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Dĩ nhiên, đây là một hình thức cấp tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nước vận dụng cho vay ưu đãi đối với các đối tượng nói trên về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện vay. Ngân hàng thực hiện chính sách của Nhà nước vận dụng hình thức tín dụng để cung cấp vốn cho hộ nghèo dùng vào mục đích SXKD, kết thúc chu kỳ sử dụng vốn thì hộ nghèo phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Gặp trường hợp rủi ro khách quan, Nhà nước có chính sách hỗ trợ 14 tùy theo mức độ thiệt hại.
Như vậy, cho vay đối với hộ nghèo là loại hình hoạt động kinh tế mang tính chất chính sách xã hội (Nguyễn Hữu Thu, 2020). Theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ban hành ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, quy định rõ: “Cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội”. Để thống nhất với quan điểm của Nhà nước cũng như của NHCSXH, khái niệm cho vay hộ nghèo được luận văn tiếp cận dựa trên quan điểm này. Đặc điểm cho vay hộ nghèo Cho vay hộ nghèo có những đặc điểm như sau: - Mục đích cho vay: Mục đích cho vay đối với hộ nghèo của ngân hàng là không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến việc góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo của Chính phủ.
- Tính chất cho vay: Ngân hàng thường sử dụng một phần nguồn tài chính của Nhà nước tham gia hỗ trợ cho các ngành, các khu vực, các khoản cho vay chỉ định để hỗ trợ các chính sách kinh tế và ngành công nghiệp của Chính phủ. Đây là việc cho vay phi thương mại đối với các hoạt động mà không đáp ứng các tiêu chí thương mại nhưng lại có tác động xã hội và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. - Chính sách cho vay: Các chính sách về cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách thường do Chính phủ hoạch định và được quy định theo từng thời kỳ.