CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu Như nhiều xã hội khác, bạo lực gia đình ở Việt Nam là một vấn đề phức tạp. Nó được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa và niềm tin mạnh mẽ về gia đình và vai trò giới dựa trên những giá trị Nho giáo có từ một nghìn năm nay – những giá trị tạo nên mối quan hệ quyền lực trong xã hội cũng như trong gia đình[6].Theo truyền thống Nho giáo, người phụ nữ Việt Nam cần có bốn phẩm chất (Tứ đức) - gồm Công (làm việc chăm chỉ), Dung (hình thức ưa nhìn), Ngôn (Nói năng dịu dàng) và Hạnh (cư xử có đạo đức). Cũng trong hệ thống quan niệm Nho giáo truyền thống, bổn phận của người phụ nữ bị bó hẹp trong phạm vi công việc nội trợ, sinh đẻ và nuôi dưỡng, dạy dỗ con trai để nối dõi tông đường nhà chồng. Vai trò trung tâm của phụ nữ với tư cách là người mẹ, người vợ, con dâu, là duy trì “gia đình êm ấm”, duy trì các “giá trị gia đình” và thanh danh dòng họ.
Đối với nam giới, Nho giáo chú trọng “năm nghĩa vụ về đạo đức”(Ngũ luân). Ngũ luân xác định trách nhiệm và hành vi giữa những người thuộc năm mối quan hệ thứ bậc như Vua- Tôi, Cha-Con, Anh-Em, Chồng-Vợ và Bạn-Hữu. Theo các nghĩa vụ đó, người trên phải khuyên bảo người dưới và người dưới phải vâng lời người trên. Phương thức gia trưởng cũng đòi hỏi người đàn ông phải thể hiện gia phong từ đời này qua đời khác.
Vì thế mà thời gian trước đây, BHGĐ hầu như không được quan tâm bởi theo các chuẩn mực truyền thống bấy giờ, nam giới phải biết “dạy” vợ gìn giữ, bảo vệ gia phong , và việc chồng có sử dụng bạo lực để “dạy” vợ mình lúc này cũng được xã hội coi là hợp lý[7]. Việc chấp nhận BHGĐ của xã hội lúc bấy giờ cho thấy vị thế của người phụ nữ vô cùng thấp kém trong xã hội và gia đình. Dân gian Việt Nam ta có câu: 14 “Dạy con từ thưở còn thơ Dạy vợ từ thưở bơ vơ mới về” hoặc “Mài gươm dạy vợ Giết chó khuyên chồng” Việc gộp con vào với vợ như là đối tượng phải dạy dỗ đã cho thấy địa vị của người phụ nữ luôn thấp kém như thế nào. Sự khác biệt giữa chữ “dạy” và chữ “khuyên” đã phản ánh địa vị khác nhau của chồng và vợ, người chồng thì dạy vợ còn người vợ thì dù có giết chó cũng chỉ có thể là để khuyên chồng mà thôi.
Trong trường hợp này, Khổng Tử còn xếp người phụ nữ với kẻ tiểu nhân mà ông cho là rất khó dạy. Ông viết: “chỉ có bọn con gái và bọn tiểu nhân là khó nuôi dạy. Hễ mình gần gũi thì họ khinh nhờn, còn nếu mình xa cách nghiêm nghị thì họ oán ghét”[8] Tuy nhiên đến sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì Đảng và Nhà Nước ta đã bắt đầu chú trọng đến vấn đề bình đẳng và đã ban hành nhiều chính sách pháp luật nhằm phòng chống bạo hành gia đình. Theo đó, việc chống BHGĐ đã được khẳng định trong Hiến pháp, luật pháp và các chính sách xã hội của nước ta.
Ngay từ bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà 1946 - Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” nhưng phải đến hiến pháp năm 1980, 1992 thì quyền này mới được đề cập một cách cụ thể hơn. Hiến pháp năm 1992, điều 63 quy định“… Công dân nữ và nam có quyền ngang bằng nhau về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Ngoài ra, trong bộ luật dân sự, các quyền của con người cũng được thể hiện khá rõ ràng, đầy đủ, trong đó có quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân được quy định ở Điều 32 “ Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể. Trong Bộ 15 luật hình sự của nước ta cũng quy định một số biện pháp chế tài áp dụng đối với những kẻ có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và thân thể người phụ.
[6] Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh “Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị”, nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội- 2007, tr.45-47 [7] Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý “Gia đình học”, tr.350 [8] Vũ Ngọc Bình, Hội thảo thực hiện cam kết quốc tế và pháp luật về bình đẳng giới nữ, cụ thể Điều 121 quy định “ Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm”, Điều 100 quy định “ Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm”. Ngoài ra, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký tham gia công ước CEDAW- Công ước Xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, là một văn bản pháp luật quốc tế do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979. CEDAW hiện có 187 quốc gia thành viên và là điều ước quốc tế về quyền con người có số lượng quốc gia thành viên chỉ đứng thứ hai sau công ước về quyền trẻ em. Công ước CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ, là văn kiện bảo đảm thi hành các quyền con người đối với phụ nữ, như là hiến chương nhân quyền của con người (Kofi.
Công ước bao gồm 6 phần với 30 điều xác định những nội dung cơ bản về khái niệm phân biệt đối xử, về các cam kết quốc gia về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và dân sự dưới mọi hình thức mà tất cả các nước tham gia phê chuẩn có nghĩa vụ thực hiện nhằm bảo đảm cho phụ nữ được thực hiện các quyền bình đẳng như nam giới. Công ước buộc các thành viên phải chấm dứt tất cả các hình thức phân biệt đối xử, bất kể ngoài xã hội hay trong gia đình, trước pháp luật hay trong đời sống hàng ngày cho đến khi phụ nữ được chấp nhận là có quyền bình đẳng toàn diện như nam giới. CEDAW là văn kiện quốc tế duy nhất về quyền con người 16 nhấn mạnh yếu tố văn hóa, truyền thống vốn là những yếu tố hình thành nên vai trò giới và các mối quan hệ trong gia đình. CEDAW đã trờ thành khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các nước trong việc xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ để thực hiện bình đẳng giới.[9] Kế thừa các nguyên tắc cơ bản của bộ luật trước đó và thể chế hoá công ước CEDAW, Luật hôn nhân và gia đình cũng được xem là văn bản có quy định rõ nhất về quyền của phụ nữ được bảo vệ trước các hành vi bạo hành gia đình.
Trong đó Luật hôn nhân gia đình 2000 đã có nhiều điều quy định bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em nhằm xoá bỏ được sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình trên cơ sở bình đẳng nam nữ. Chẳng hạn như trong Điểm 2 điều 4 quy định “ Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình” Điều 21 “ cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín lẫn nhau”…Đến tháng 5/2005, Thủ tướng đã ký quyết định số 106/2005/QĐ phê duyệt chiến lược về gia đình của Việt Nam, một trong những mục tiêu của chiến lược này là giảm mạnh bạo lực gia đình. Năm 2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI, đã chính thức thông qua luật Bình đẳng giới- luật quy định các nguyên tắc bình đẳng giới trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình , có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007. Tiếp sau đó, ngày 21 tháng 11/2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII đã thông qua luật Phòng chống bạo lực gia đình và có hiệu lực từ ngày 01/07/2008.
Đây là hai bộ luật mang tính nhân văn sâu sắc của nước ta, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới, đảm bảo quyền con người, đề cao vai trò gia đình đối với xã hội, khẳng định gia đình là nền tảng phát triển bền vững. Theo đó, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) triển khai thực hiện đưa ra các quy định rõ ràng về phòng, chống bạo lực trong gia đình và về một loạt các hành vi được coi là bạo lực gia đình. Luật này quan tâm hơn tới việc hỗ trợ, bảo 17 vệ nạn nhân, trong khi các luật khác về hành chính và hình sự tập trung chủ yếu vào hình phạt đối với người gây bạo lực. Luật này đề cao các nguyên tắc, biện pháp phòng chống bạo lực gia đình và vai trò trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác nhau.
[9] Nguyễn Xuân Nghĩa, tập bài giảng Xã hội học, Đại học Mở- Tp.HCM Như vậy, có thể thấy rằng về mặt chính sách và luật pháp, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách pháp luật quan tâm đến vấn đề BHGĐ tuy nhiên về mặt xã hội, việc xóa bỏ tư tưởng “ trọng nam khinh nữ” là không đơn giản khi mà tư tưởng này đã tồn tại rất lâu trong lối sống, phong tục, suy nghĩ, ứng xử của người Việt Nam. Điều này cũng ít nhiều ảnh hưởng đến việc thực thi các chính sách pháp luật. Trước tình hình đó, thời gian qua đã có khá nhiều các cuộc nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức, cũng như cá nhân về hiện tượng này.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước BHGĐ đã có từ lâu trong lịch sử thế nhưng trước đổi mới (trước 1986) không có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, một phần là do quan điểm cho rằng bạo hành gia đình là vấn đề riêng tư mà các gia đình có thể tự giải quyết.