mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. 1974 cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài.
Brummitt (1992), chuyên gia của phòng bảo tàng thực vật Hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là Khuyết lá thông (Psilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2. Ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới. Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu.
Ta có thể nhắc tới một số tác giả như: Tuệ Tĩnh (1417) trong cuốn “Nam dược thần hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc, Lý Thời Chân (1595) trong cuốn “Bản thảo cương mục” đã đề cập đến hơn 1000 vị thuốc thảo mộc… Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nước ta mới chỉ bắt đầu vài thời Pháp thuộc. Trước hết phải kể đến các công trình: “Thực vật chí Nam bộ” của Leureir; Thực vật chí rừng nam bộ của các tác giả Pierre L. Một trong công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomte et al., kết quả của nghiên cứu này là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này theo Lecomte thì vùng Đông Dương có hơn 7000 loài. Đây là bộ sách có ý nghĩa lớn với các nhà thực vật học; hiện nay bộ sách này vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói riêng.
Tiếp theo đó là bổ sung của Humbert H. 8 Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ. Ngành Hạt kín có 6366 loài (chiếm 90,89%), 1727 chi (chiếm 93,35%) và 239 họ (chiếm 82,70%). Ngành Hạt trần có 39 loài (chiếm 0,56%), 18 chi (chiếm 0,97%), 8 họ (chiếm 2,77%) và còn lại là nhóm Quyết thực vật.
Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập “ Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Đáng chú ý nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada, bao gồm 3 tập (6 quyển), đã thống kê mô tả được 10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Trong 2 năm 1999 đến 2000, ông đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản tại Việt Nam.
Bộ sách gồm 3 quyển, đã thống kê mô tả 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành. Theo hướng nghiên cứu đa dạng phân loại ở các vùng của Việt Nam có công trình của Phan Kế Lộc (1973) “Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”. Tác giả đã thống kê được 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ. Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Bình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể các tác giả đã xuất bản tập “Danh lục thực vật Tây Nguyên” công bố 3754 loài thực vật bậc cao có mạch bằng một nửa số loài của hệ thực vật Việt Nam.
Công trình này khảo sát bao quát cả một hệ thực vật rừng phong phú vào bậc nhất nước ta nên rất có ý nghĩa. Trong công trình “Thực vật ở đảo Phú Quốc” (1985), tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê được 929 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 112 loài cây trồng, 817 loài cây có phân bố tự nhiên và ghi nhận thêm 19 loài mới cho Việt Nam, không kể Nấm. Năm 1999, trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, Lê Trần Chấn đã thống kê được ở Việt Nam có 10.192 loài, 2298 chi và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Khuyết lá thông 9 (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đá (Lycopodiophyta) có 54 loài, 4 chi, 2 họ; ngành Thuỷ phỉ (Isoetophyta) có 1loài, 1 chi, 1họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 632 loài, 138 chi, 28 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 52 loài, 22 chi, 8 họ; ngành Hạt kín có 9.
Gần đây (2001 – 2005), tập thể các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – ĐHQGHN, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật cùng với các tài liệu đã có, đã xuất bản bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập. Bộ sách đã thống kê đầy đủ nhất các loài thực vật có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất. Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các Vườn Quốc gia (VQG), Khu Bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến đến nay đã có nhiều công trình. Điển hình phải kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Bá Thụ ở VQG Cúc Phương (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn - Nguyễn Thanh Nhàn ở VQG Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở VQG Bạch Mã (2003), Lê Thị Huyên ở VQG Cát Bà (1998), Nguyễn Văn Thanh ở VQG Xuân Sơn (2005).
Năm 1995, trong luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp với đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Cúc Phương” tác giả Nguyễn Bá Thụ đã thống kê được trên diện tích 222 km2 có 1944 loài thực vật bậc cao thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật bậc cao và đã bổ sung thêm 270 loài thực vật cho hệ thực vật Cúc Phương so với danh lục thực vật năm 1971. Trong số đó có 127 loài, 74 chi, 31 họ thuộc ngành Rêu (Bryophyta). Đồng thời tác giả đã phân tích khá đầy đủ sự đa dạng về dạng sống, yếu tố địa lý, thành phần cũng như cấu trúc rừng. Ở Đền Hùng Đối với việc nghiên cứu tính đa dạng thực vật của Rừng quốc gia Đền Hùng phải kể đến công trình nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam tháng 6/2001.
Theo số liệu thống kê sơ bộ ban đầu, thực vật Đền Hùng có 636 loài 10 (trong đó có 180 loài cây được gây trồng), 424 chi, 144 họ thuộc 5 nghành thực vật bậc cao có mạch trong đó có nhiều loài cây bụi và dây leo. Một số nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp cũng được triển khai tại Rừng quốc gia Đền Hùng. Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu như: “Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc, công dụng của cây rừng làm cở sở cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại khu vực đền Hùng Vương Lâm thao – Phú Thọ” của Vương Duy Hưng năm 2000; “Tìm hiểu một số đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên làm cơ sở cho công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trong Khu di tích lịch sử đền Hùng Vương – Lâm Thao – Phú Thọ” của Nguyễn Duy Công năm 2000; “Sơ bộ nghiên cứu đánh giá tình hình sinh trưởng của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ” của Đặng Thị tuyết năm 2004; và gần đây là đề tài thạc sĩ của Nguyễn Văn Quyết năm 2011 “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ tại Rừng quốc gia Đền Hùng, Phú Thọ”. Nhìn chung, các nghiên cứu về tài nguyên thực vật ở Rừng quốc gia Đền Hùng chưa nhiều, đặc biệt là chưa có các nghiên cứu về tính đa dạng thực vật thân gỗ tại vườn lưu niệm ở Đền Hùng.
Chính vì vậy mà việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ những loài thực vật thân gỗ tại vườn lưu niệm còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ những lý do trên, việc triển khai một đề tài nghiên cứu về tính đa dạng thực vật thân gỗ tại vườn lưu niệm thuộc khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng là hết sức cần thiết. Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm những thông tin về đa dạng thực vật thân gỗ nơi đây và làm cơ sở cho việc chăm sóc, quản lý, bảo vệ và những nghiên cứu tiếp theo tại khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng. 11 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Xây dựng cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ. Mục tiêu cụ thể Đánh giá được đặc điểm hệ thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng Đánh giá được tính thích nghi một số loài cây bản địa được trồng tại rừng quốc gia Đền Hùng Đề xuất được một số giải pháp nhằm quản lý hiệu quả tài nguyên thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Hệ thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng,tỉnh Phú Thọ.
Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu bổ sung danh lục các loài thực vật tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá tính đa dạng sinh học về thành phần loài, dạng sống, công dụng và giá trị bảo tồn của hệ thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng. - Đánh giá tính thích nghi của một số loài cây bản địa có xuất xứ tại miền Nam được trồng tại rừng quốc gia Đền Hùng - Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên thực vật tại rừng quốc gia Đền Hùng. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp tiếp cận Tính đa dạng thực vật được thể hiện ở 2 phương diện: Cá thể và quần thể. Đối với cá thể: cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ các nội dung về phương thức sống, sinh trưởng phát triển, sinh sản,… từ đó đánh giá được nguồn gốc, phân bố, dạng sống của thực vật.