Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người khuyết tật chiếm khoảng 15% dân số toàn cầu, trong đó các khiếm khuyết liên quan đến chức năng vận động là nhóm phổ biến nhất. Tại Việt Nam, số liệu thống kê ghi nhận hơn 7 triệu người khuyết tật (chiếm khoảng 7,8% dân số năm 2015), trong đó khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ khoảng 27%. Khảo sát thực tế tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy người khuyết tật vận động từ 18 tuổi trở lên gặp nhiều rào cản trong sinh hoạt và khả năng tự chủ di chuyển. Thống kê năm 2023 cũng chỉ ra rằng ở nhóm từ 16 tuổi trở lên, tỷ lệ khuyết tật vận động thân dưới chiếm mức cao nhất (5,20%), trong khi ở nhóm trẻ em từ 2-4 tuổi và 5-15 tuổi, tỷ lệ khuyết tật về thần kinh chiếm ưu thế (lần lượt là 3,92% và 1,05%).
Xe lăn điện truyền thống điều khiển bằng cần gạt (joystick) đã hỗ trợ việc đi lại của người khuyết tật, song vẫn tiềm ẩn nguy cơ va chạm đối với những người có phản xạ chậm, thị lực suy giảm hoặc suy giảm chức năng chi trên. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã phát triển xe lăn thông minh ứng dụng cảm biến siêu âm, cảm biến rung, camera định vị hoặc hệ thống tự hành bằng công nghệ quét laser. Nhằm giải quyết yêu cầu hỗ trợ di chuyển an toàn với chi phí hợp lý, đề tài "Thiết kế và thi công hệ thống phát hiện và tránh vật cản trên xe lăn điện cho người khuyết tật" được thực hiện nhằm xây dựng giải pháp tích hợp cảm biến LiDAR quét laser kết hợp cơ cấu nghiêng để nhận diện không gian xung quanh và tự động dừng xe khẩn cấp khi gặp chướng ngại vật.
Đề tài xác định mục tiêu tổng quát là thiết kế và thi công hoàn chỉnh hệ thống phát hiện và tránh vật cản lắp đặt trực tiếp trên xe lăn điện, đảm bảo người sử dụng vận hành độc lập, giảm thiểu nguy cơ tai nạn. Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 8 nội dung theo văn bản giao việc:
- Tìm hiểu các sản phẩm, mô hình phát hiện và tránh vật cản đã có; nghiên cứu cấu tạo, nguyên lý hoạt động của cảm biến LiDAR và động cơ servo.
- Thiết kế sơ đồ khối và sơ đồ nguyên lý hệ thống, tích hợp LiDAR và servo nhằm tối ưu vùng quét chướng ngại vật.
- Lập trình điều khiển động cơ servo để thay đổi góc quét của LiDAR, kết hợp thu thập và xử lý dữ liệu đám mây điểm.
- Xây dựng thuật toán tránh vật cản dựa trên dữ liệu quét và xuất lệnh điều khiển xe lăn phù hợp.
- Thiết kế mạch điện in (PCB) và vẽ mô hình cơ khí 3D của sản phẩm bằng phần mềm chuyên dụng.
- Thi công mô hình phần cứng, tích hợp hệ thống, vận hành thử nghiệm và hiệu chỉnh thông số.
- Viết báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả đạt được và các vấn đề phát sinh.
- Báo cáo và bảo vệ đồ án tốt nghiệp trước hội đồng chuyên môn.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống cơ điện tử kết hợp cảm biến quét khoảng cách laser 2D (LiDAR), cơ cấu quét góc nghiêng và hệ thống điều khiển công suất trên xe lăn điện. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn: thời gian thực hiện từ ngày 09/09/2024 đến ngày 21/12/2024 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh; cảm biến quét trong phạm vi tối đa 12 m (độ chính xác ổn định nhất dưới 6 m), góc nghiêng servo giới hạn trong 180°; số lượng mẫu lưu trữ tối đa 200 điểm đo mỗi chu kỳ quét; môi trường thử nghiệm là điều kiện khô ráo trong nhà, không chịu tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời mạnh hay mưa bụi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Văn bản hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về các công nghệ cảm biến phát hiện vật thể, phương pháp điều hướng và các kỹ thuật xử lý dữ liệu không gian:
- Công nghệ cảm biến đo khoảng cách: Cảm biến LiDAR hoạt động theo nguyên lý thời gian bay (Time-of-Flight - ToF) với công thức tính khoảng cách $d = (c \times t) / 2$ (trong đó $c \approx 3 \times 10^8\text{ m/s}$, $t$ là thời gian khứ hồi của xung laser). Tác giả so sánh nguyên lý này với các công nghệ khác như Camera RGB (sử dụng thuật toán tách biên Canny/Sobel, mô hình YOLO, Faster R-CNN, phân vùng ảnh DeepLab/U-Net), Depth Camera (nguyên lý ToF, Stereo Vision, Structured Light tạo bản đồ độ sâu Depth Map và đám mây điểm Point Cloud), Radar (sóng vô tuyến, hiệu ứng Doppler), Cảm biến siêu âm (tần số 20 kHz - 40 kHz, vận tốc âm thanh $v = 343\text{ m/s}$ ở 20°C), Cảm biến hồng ngoại (IR phát/thu và tam giác lượng giác $D = k \times (1 / V_{out})$) và cảm biến đơn điểm ToF (như VL53L0X, VL53L1X).
- Phương pháp tránh vật cản: Phân tích 5 hướng tiếp cận gồm phản ứng trực tiếp (dừng hoặc rẽ ngay khi khoảng cách nhỏ hơn ngưỡng an toàn), thuật toán điều hướng đường đi (A*, D*, thuật toán Bug), bản đồ môi trường (SLAM kết hợp bản đồ tĩnh/động), thuật toán dự đoán chuyển động và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (học máy, học tăng cường).
- Phương pháp lọc nhiễu dữ liệu LiDAR: Gồm lọc thống kê khoảng cách lân cận ngoại lai dựa trên ngưỡng $\mu + \alpha \cdot \sigma$; lọc theo mật độ điểm trong bán kính $R$ với số điểm tối thiểu $MinPts$; lọc theo ngưỡng cường độ phản xạ $I_{min} \le I(p_i) \le I_{max}$ (nhằm loại trừ bề mặt gương hoặc kim loại bóng); lọc giới hạn khoảng cách đo; lọc mặt phẳng bằng thuật toán RANSAC thông qua phương trình mặt phẳng $Ax + By + Cz + D = 0$.
- Phương pháp phân cụm dữ liệu: Khảo sát các thuật toán DBSCAN (dựa trên bán kính $\epsilon$ và $MinPts$), K-Means (khoảng cách Euclidean và cập nhật trọng tâm), phân cụm phân cấp (Agglomerative và Divisive), phân cụm dựa trên lưới (Grid-based), Mean Shift và phân cụm dựa trên đồ thị (cây khung nhỏ nhất MST, Spectral Clustering).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai là phương pháp thiết kế kỹ thuật - thực nghiệm cơ điện tử. Tác giả kết hợp thiết kế cơ khí 3D trên Solidworks, thiết kế mạch điện tử trên phần mềm chuyên ngành, lập trình nhúng C/C++ trên nền tảng Arduino IDE và thu thập dữ liệu đám mây điểm thực tế từ cảm biến để phân tích kiểm chứng. Nguồn dữ liệu sử dụng gồm các số liệu thống kê y tế của WHO và cơ quan quản lý về người khuyết tật, thông số kỹ thuật từ datasheet linh kiện sản xuất, cùng toàn bộ chuỗi số liệu thực nghiệm đo đạc khoảng cách và thời gian đáp ứng trên mô hình xe lăn thực tế.
Thiết kế và triển khai hệ thống kỹ thuật
Hệ thống được tổ chức thành 5 khối chức năng chính: Khối nguồn, Khối cảm biến, Khối xử lý trung tâm, Khối điều khiển và Khối thực thi.
+------------+ +-------------------+ +-----------------+ +----------------+
| Khối nguồn | ----> | Khối cảm biến | ----> | Khối xử lý | ----> | Khối điều khiển|
| (Ắc quy & | | (LiDAR A1, Servo) | | trung tâm (Due) | | (Nano, Joystick|
| LM2596) | +-------------------+ +-----------------+ +----------------+
+------------+ |
| v
+--------------------------------------------------------------------> +----------------+
| Khối thực thi |
| (BTS7960, DC) |
+----------------+
Việc lựa chọn các phần tử kỹ thuật trong từng khối dựa trên việc đối chiếu các tiêu chí kỹ thuật:
| Tiêu chuẩn kỹ thuật |
RPLIDAR A1 |
RPLIDAR A2 |
RPLIDAR A3 |
| Phạm vi quét |
0,15 – 12 m |
0,2 – 16 m |
0,2 – 25 m (hoặc 20 m) |
| Góc quét |
0 – 360° |
0 – 360° |
0 – 360° |
| Độ phân giải góc |
$\le 1^\circ$ |
0,9° (hoặc 0,255°) |
0,255° |
| Tần số lấy mẫu |
8 kHz |
16 kHz |
16 kHz |
| Giao thức và tốc độ |
TTL UART, 115200 bps |
TTL UART, 256000 bps |
TTL UART, 256000 bps |
RPLIDAR A1 được chọn vì cự ly 12 m đáp ứng tốt nhu cầu phát hiện vật cản ở phạm vi 5 m và cảnh báo ở cự ly 1,8 m, tốc độ truyền 115200 bps tương thích với khả năng xử lý của vi điều khiển, giúp tối ưu chi phí.
| Tiêu chuẩn kỹ thuật |
Servo SG90 |
Servo MG995 |
Servo MG996R |
| Khối lượng |
9 g |
55 g |
55 g |
| Kích thước bao |
22,2 $\times$ 11,8 $\times$ 31 mm |
40,7 $\times$ 19,7 $\times$ 42,9 mm |
40,7 $\times$ 19,7 $\times$ 42,9 mm |
| Mô-men xoắn dừng |
1,8 kgf$\cdot$cm |
8,5 kgf$\cdot$cm |
9,4 – 11 kgf$\cdot$cm |
| Tốc độ hoạt động |
0,1 s/60° (ở 4,8V) |
0,2 s/60° (ở 4,8V) |
0,17 s/60° (ở 4,8V) |
Servo SG90 được chọn do kết cấu nhỏ gọn, trọng lượng nhẹ, đủ mô-men xoắn để kéo nghiêng cụm LiDAR A1 và giảm quán tính rung động.
| Tiêu chí so sánh |
Arduino Due |
Arduino Uno |
ESP32 |
STM32F103C8T6 |
| Vi xử lý trung tâm |
Atmel SAM3X8E ARM Cortex-M3 |
ATmega328P |
Tensilica Xtensa Dual-Core |
ARM Cortex-M3 |
| Tần số xung nhịp |
84 MHz |
16 MHz |
240 MHz |
72 MHz |
| Dung lượng Flash / RAM |
512 KB / 96 KB |
32 KB / 2 KB |
4 MB / 520 KB |
64 KB / 20 KB |
| Số chân I/O (PWM, Analog) |
54 (12 PWM, 12 Analog) |
14 (6 PWM, 6 Analog) |
36 (16 PWM, 18 Analog) |
37 (15 PWM, 10 Analog) |
| Cổng giao tiếp UART |
4 cổng |
1 cổng |
3 cổng |
3 cổng |
| Điện áp mức logic |
3,3V |
5V |
3,3V |
3,3V |
| Độ phân giải ADC |
12-bit |
10-bit |
12-bit |
12-bit |
Arduino Due được chọn làm khối xử lý trung tâm nhờ tần số 84 MHz, 96 KB SRAM đủ sức lưu trữ 200 điểm mây điểm, 4 cổng phần cứng UART và mức logic 3,3V tương thích trực tiếp với chuẩn tín hiệu của RPLIDAR A1.
| Tiêu chí |
BTS7960 |
L298N |
DRV8825 |
VNH2SP30 |
| Dải điện áp hoạt động |
5,5V – 27V (chịu tối đa 45V) |
4,8V – 46V |
8,2V – 45V |
5,5V – 16V |
| Dòng tải liên tục / đỉnh |
43A (đỉnh) |
2A |
1,5A (đỉnh 2,5A) |
30A |
| Tần số điều chế PWM |
Lên đến 25 kHz |
Tần số thấp |
Điều khiển bước |
Lên đến 20 kHz |
| Cấu trúc van bán dẫn |
Cầu H đôi MOSFET |
Cầu H BJT truyền thống |
Mạch tích hợp bước |
Cầu H MOSFET |
| Tản nhiệt tích hợp |
Khối nhôm tản nhiệt lớn |
Khối nhôm nhỏ |
Không có sẵn tản lớn |
Miếng nhôm nhỏ |
Khối thực thi sử dụng module cầu H BTS7960 để điều khiển 2 động cơ DC 24V. Khi cấp xung PWM từ Arduino Nano ở mức giá trị 60 (thang 0–255), dòng điện tiêu thụ của mỗi động cơ có dòng cực đại $I_{max} = 15,5\text{ A}$ được tính toán theo công thức:
$$I_{Motor} = I_{max} \times \frac{PWM_Value}{255} = 15,5 \times \frac{60}{255} \approx 3,65\text{ A}$$
Khối điều khiển sử dụng bo mạch Arduino Nano (ATmega328P, 16 MHz, kích thước 18 $\times$ 45 mm, 7 g) kết nối trực tiếp với module Joystick KY-023 (điện áp 5V, biến trở 10 k$\Omega$, góc nghiêng 2 trục X-Y). Khối nguồn sử dụng ắc quy 24V (bộ bình Chilwee 6-DFZ-12) kết hợp mạch hạ áp DC-DC buck converter LM2596 (dòng tải định mức dưới 3A) để hạ áp xuống các mức 5V và 3,3V cấp nguồn cho vi điều khiển, cảm biến và servo.
Về mặt cơ khí và liên kết phần cứng, nhóm nghiên cứu dùng Solidworks thiết kế 3 cụm chi tiết in 3D:
- Hộp giữ cảm biến LiDAR bảo vệ mạch quét.
- Cơ cấu nghiêng LiDAR tích hợp trục quay servo SG90 và khoang chứa bo mạch.
- Đế kết nối trung gian để gắn toàn bộ cụm cảm biến lên hệ khung giá đỡ của xe lăn.
Phần mềm hệ thống vận hành theo cơ chế phân tầng: Arduino Due đảm nhận việc thu thập chuỗi byte từ cổng UART của LiDAR A1, chuyển đổi thành góc quét và khoảng cách, kết hợp góc quay tức thời của servo SG90 để giải bài toán hình học tính cao độ điểm $Z$ (phía trước và phía sau xe). Dữ liệu sau đó được lọc nhiễu và phân cụm. Khi phát hiện vật thể nằm trong phạm vi nguy hiểm (ngưỡng 1,8 m), Arduino Due xuất tín hiệu logic cảnh báo sang Arduino Nano. Arduino Nano chạy chương trình giám sát ưu tiên: ở trạng thái an toàn, Nano đọc giá trị điện áp tương tự từ hai trục Joystick KY-023 để tạo xung PWM 25 kHz điều khiển tiến, lùi, rẽ thông qua module BTS7960; khi nhận tín hiệu cảnh báo vật cản từ Due, Nano lập tức vô hiệu hóa lệnh từ Joystick và hãm dừng động cơ để tránh va chạm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Chương 1 trình bày tổng quan thực trạng khuyết tật vận động theo thống kê của WHO và các nghiên cứu y tế tại Việt Nam; phân tích sự phát triển của các thế hệ xe lăn từ xe lăn cơ học, xe lăn điện điều khiển bằng cần gạt đến các hệ thống xe lăn thông minh ứng dụng điều khiển bằng chuyển động mắt, nhận diện giọng nói hoặc cảm biến tránh va chạm. Tác giả khảo sát các công trình tiêu biểu của Đại học Phương Đông, Đại học Bách Khoa TP.HCM, Đại học Kỹ thuật Toyohashi (Nhật Bản) và Intel Labs. Từ đó, tác giả xác lập mục tiêu, giới hạn kỹ thuật (phạm vi đo hiệu quả dưới 6 m, giới hạn 200 điểm mẫu, thao tác dừng tự động) và 8 nội dung triển khai của đề tài.
Chương 2: Phương pháp phát hiện vật cản (Cơ sở lý thuyết)
Chương 2 phân tích chuyên sâu các công nghệ cảm biến gồm LiDAR, Camera RGB, Depth Camera, Radar, cảm biến siêu âm, cảm biến hồng ngoại và cảm biến ToF. Tác giả trình bày các giải thuật tránh va chạm kinh điển (phản ứng trực tiếp, thuật toán điều hướng A*, D*, Bug, phương pháp bản đồ SLAM, thuật toán dự đoán và trí tuệ nhân tạo). Đồng thời, chương này trình bày các mô hình toán học phục vụ xử lý tín hiệu đám mây điểm: 5 phương pháp lọc nhiễu dữ liệu LiDAR (thống kê lân cận, mật độ bán kính, ngưỡng cường độ phản xạ, cửa sổ khoảng cách đo và phân tách mặt phẳng RANSAC) cùng 6 giải thuật phân cụm dữ liệu không gian (DBSCAN, K-Means, Hierarchical Clustering, Grid-Based Clustering, Mean Shift và Graph-Based Clustering).
Chương 3: Thiết kế hệ thống
Chương 3 chi tiết hóa việc thiết kế sơ đồ khối toàn hệ thống với 5 khối chức năng. Tác giả xây dựng các bảng so sánh tham số kỹ thuật để lựa chọn các linh kiện: chọn RPLIDAR A1 (thay cho A2, A3), chọn servo SG90 (thay cho MG995, MG996R), chọn Arduino Due (thay cho Uno, ESP32, STM32), chọn Arduino Nano và module Joystick KY-023, chọn module cầu H đôi BTS7960 (thay cho L298N, DRV8825, VNH2SP30). Tác giả tính toán dòng tải động cơ 24V ứng với chu kỳ PWM = 60 đạt xấp xỉ 3,65 A; trình bày nguyên lý hoạt động toàn mạch, sơ đồ mạch in PCB cho Arduino Due, thiết kế bản vẽ 2D/3D hộp giữ LiDAR, cơ cấu nghiêng và đế gá trên phần mềm Solidworks.
Chương 4: Thi công và kết quả thực hiện
Chương 4 mô tả quy trình hiện thực hóa phần cứng và xây dựng thuật toán điều khiển:
- Trình bày lưu đồ thuật toán chương trình chính trên Arduino Due, thuật toán con giải mã dữ liệu LiDAR qua UART, thuật toán tính toán tọa độ cao độ điểm $k$ ở phía trước và phía sau xe, lưu đồ phân cụm dữ liệu, cùng lưu đồ điều khiển chính trên Arduino Nano.
- Trình bày quá trình chế tạo mạch in PCB, gia công cơ khí khung giá đỡ, lắp ráp hộp điều khiển và tích hợp toàn bộ hệ thống lên khung xe lăn điện thực tế.
- Báo cáo kết quả thí nghiệm thực nghiệm: thử nghiệm dựng đám mây điểm của một vật thể đơn lẻ; thử nghiệm quét nhận diện nhiều vật thể từ góc nhìn trên cao và góc nghiêng; thử nghiệm quét bề mặt gương phản xạ; thử nghiệm đo chiều rộng vật cản ở các cự ly khác nhau; thử nghiệm phân biệt vật cản và đánh giá chu kỳ xử lý quét; thực hiện kịch bản điều khiển xe lăn thực tế dừng trước vật cản số 1, vật cản số 2, vật cản số 3 và hệ thống tường chắn, ghi nhận dữ liệu đám mây điểm và chuỗi cảnh báo xuất qua cổng Serial.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển
Chương 5 tổng kết các kết quả đạt được đối với mô hình xe lăn điện thực tế; chỉ ra những mặt tồn tại về cơ cấu cơ học, giới hạn môi trường hoạt động và năng lực xử lý thuật toán; đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm nâng cấp hệ thống trong các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Hệ thống sau khi tích hợp hoàn chỉnh đã đạt được các thông số kỹ thuật và kết quả thực nghiệm sau:
- Dựng hình đám mây điểm: Hệ thống quét và tái tạo chính xác tọa độ không gian của các vật cản mẫu trong môi trường thử nghiệm ở các góc nhìn trên cao và góc nghiêng. Trong thử nghiệm với bề mặt gương phẳng, hệ thống ghi nhận hiện tượng tán xạ và sai lệch điểm mây do đặc tính phản xạ ánh sáng của vật liệu kính.
- Đo đạc kích thước và chu kỳ: Thực nghiệm đo đạc chiều rộng vật thể ở các khoảng cách khác nhau cho thấy độ phân giải đo đạc ổn định trong phạm vi kiểm tra dưới 5 m. Chu kỳ lấy mẫu và xử lý gói dữ liệu 200 điểm đảm bảo việc gửi tín hiệu cảnh báo dừng kịp thời.
- Thử nghiệm vận hành thực tế: Xe lăn điện di chuyển và phản hồi tự động dừng chính xác trước 4 kịch bản chướng ngại vật bố trí liên tiếp trong sa bàn thực nghiệm:
- Dừng an toàn trước vật cản số 1, in dòng cảnh báo trên Serial Monitor và xuất đám mây điểm tương ứng.
- Dừng an toàn trước vật cản số 2.
- Dừng an toàn trước kết cấu tường chắn dạng phẳng.
- Dừng an toàn trước vật cản số 3.
Về mặt giải pháp kỹ thuật, tác giả đề xuất mô hình quét không gian 3D chi phí thấp bằng cách ghép nối cảm biến LiDAR quét mặt phẳng 2D (RPLIDAR A1) với một động cơ servo SG90 nghiêng góc tuần hoàn, thay thế cho các cảm biến LiDAR 3D chuyên dụng đắt đỏ. Đồng thời, cấu trúc xử lý phân tầng sử dụng hai vi điều khiển (Arduino Due chuyên tính toán mây điểm và Arduino Nano chuyên điều khiển động cơ) giúp cô lập tác vụ tính toán phức tạp khỏi mạch lực công suất cao, đảm bảo xe lăn không bị mất kiểm soát khi vi điều khiển chính đang xử lý dữ liệu.
So với các công trình nghiên cứu đi trước được tổng quan (như hệ thống xe lăn dùng cảm biến siêu âm/GPS của ĐH Phương Đông hay cảm biến rung/nghiêng của ĐH Bách Khoa TP.HCM), đề tài đã nâng cao khả năng bao quát không gian nhờ quét góc 360° kết hợp góc nghiêng, đồng thời kết hợp linh hoạt giữa quyền điều khiển chủ động của người dùng qua Joystick và cơ chế can thiệp an toàn dừng khẩn cấp tự động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản đồ án nêu rõ các hạn chế kỹ thuật hiện tại của hệ thống:
- Phạm vi hoạt động tối ưu của cảm biến chỉ đạt độ chính xác cao ở cự ly dưới 6 m; khả năng phát hiện vật cản bị suy giảm đối với các vật thể có kích thước quá nhỏ hoặc các bề mặt có hệ số phản xạ ánh sáng laser kém.
- Góc quét đứng phụ thuộc vào hành trình xoay 180° của servo SG90, kết cấu cơ khí còn chịu tác động của rung chấn khi xe lăn chuyển động trên mặt sàn không bằng phẳng.
- Tốc độ xử lý của vi điều khiển đặt ra giới hạn trần 200 mẫu đo mỗi chu kỳ quét để tránh gây trễ hệ thống.
- Thao tác tránh vật cản mới dừng lại ở mức phản ứng cơ bản là ngắt động cơ dừng xe khẩn cấp, chưa thực hiện được các thao tác né tránh phức tạp như tự động tính toán quỹ đạo vòng qua chướng ngại vật.
- Môi trường thử nghiệm chỉ giới hạn ở điều kiện khô ráo trong nhà, chưa thể kiểm tra khi vận hành dưới trời mưa, khói bụi dày hoặc ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp.
Hướng phát triển tiếp theo được tác giả đề xuất gồm:
- Tối ưu hóa thuật toán xử lý dữ liệu đám mây điểm để nâng cao tốc độ tính toán, cho phép tăng số lượng điểm đo mỗi chu kỳ quét mà không làm trễ thời gian phản hồi.
- Nâng cấp năng lực xử lý phần cứng hoặc tích hợp các mô hình học máy (Machine Learning) để phân loại và nhận diện chính xác các loại vật cản trong thời gian thực.
- Cải tiến thuật toán điều hướng để xe lăn có thể tự động bẻ lái rẽ nhánh hoặc quay đầu tránh vật cản thay vì chỉ dừng lại.
- Gia cố cơ cấu cơ khí, bổ sung giảm chấn cho cụm gắn LiDAR và hoàn thiện thiết kế hộp bảo vệ đạt chuẩn chống chịu thời tiết để mở rộng thử nghiệm ngoài trời.
Giá trị tham khảo
Đồ án là tài liệu kỹ thuật có giá trị tham khảo cho sinh viên, học viên và kỹ sư thuộc các chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông, Điện tử Công nghiệp, Kỹ thuật Cơ điện tử, Robot và Kỹ thuật Y sinh đang thực hiện các đề tài về thiết bị hỗ trợ người khuyết tật hoặc robot di động tự hành (AGV/AMR).
Các nội dung có giá trị thực tiễn cao bao gồm:
- Thiết kế cơ cấu cơ khí và giải pháp biến đổi LiDAR quét 2D thành hệ thống quét không gian 3D góc nghiêng điều khiển bởi servo.
- Thiết kế mạch in, phối hợp điện áp logic 3,3V - 5V và giải pháp ghép nối 2 vi điều khiển (Arduino Due và Arduino Nano) qua chuẩn truyền thông nối tiếp để phân tách tầng tính toán và tầng chấp hành.
- Phương pháp tính toán dòng tải điều chế độ rộng xung PWM tần số cao (25 kHz) kết nối module công suất BTS7960 với động cơ DC 24V dòng lớn.
- Quy trình thực nghiệm đánh giá sai số mây điểm của LiDAR khi gặp các bề mặt vật liệu đặc thù (như gương phẳng) và thuật toán phân tích cao độ điểm cản.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nhóm tác giả lại lựa chọn cảm biến RPLIDAR A1 thay vì các phiên bản cao hơn như RPLIDAR A2 hay A3?
RPLIDAR A1 có phạm vi quét 0,15 – 12 m và độ phân giải góc $\le 1^\circ$, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của bài toán phát hiện vật cản ở phạm vi 5 m và cảnh báo ở cự ly 1,8 m trên xe lăn điện. Tần số lấy mẫu 8 kHz và tốc độ baud 115200 bps của A1 phù hợp với năng lực xử lý và bộ đệm UART của Arduino Due, trong khi các dòng A2 và A3 có tốc độ truyền thông lên tới 256000 bps và tầm quét 16–25 m gây lãng phí năng nguyên và quá tải tính toán không cần thiết.
2. Nhiệm vụ cụ thể của hai vi điều khiển Arduino Due và Arduino Nano trong hệ thống được phân định như thế nào?
Arduino Due đóng vai trò xử lý trung tâm, tiếp nhận chuỗi dữ liệu UART tốc độ cao từ LiDAR A1, tính toán góc quét, khoảng cách, tọa độ chiều cao không gian kết hợp với góc nghiêng servo SG90, sau đó lọc nhiễu và phân cụm điểm cản. Arduino Nano đóng vai trò điều khiển chấp hành, nhận tín hiệu cảnh báo từ Due, đọc tín hiệu điện áp analog từ Joystick KY-023 và trực tiếp phát xung PWM tần số cao (25 kHz) tới module cầu H BTS7960 để điều khiển 2 động cơ DC 24V.
3. Khi cấp xung PWM ở mức 60 từ Arduino Nano, dòng điện tiêu thụ tính toán của mỗi động cơ DC 24V là bao nhiêu?
Động cơ DC 24V có dòng định mức cực đại $I_{max} = 15,5\text{ A}$. Khi áp dụng công thức $I_{Motor} = I_{max} \times (PWM_Value / 255)$ với $PWM_Value = 60$, dòng điện tiêu thụ tính toán của mỗi động cơ xấp xỉ 3,65 A.
4. Nhóm nghiên cứu giải quyết bài toán phát hiện vật cản đa chiều trong không gian bằng cảm biến LiDAR 2D như thế nào?
Cảm biến RPLIDAR A1 vốn chỉ quét trên một mặt phẳng cắt 2D. Tác giả đã gắn cụm LiDAR lên một cơ cấu nghiêng cơ khí điều khiển bởi động cơ servo SG90 (hành trình xoay tối đa 180°). Bằng cách quét laser liên tục trong khi servo thay đổi góc dốc theo trục đứng, hệ thống thu thập được các lát cắt dữ liệu ở nhiều độ cao khác nhau, từ đó phần mềm tính toán tọa độ cao độ điểm $Z$ phía trước và phía sau xe để nhận diện vật thể trong không gian 3D.
5. Những yếu tố môi trường và phần cứng nào giới hạn hiệu năng của hệ thống trong quá trình thử nghiệm?
Hệ thống bị giới hạn bởi: cự ly đo tin cậy chỉ đạt dưới 6 m; bề mặt phản xạ gương làm tán xạ chùm tia laser gây sai số mây điểm; số lượng mẫu bị khống chế tối đa 200 điểm/lần quét để tránh trễ chu kỳ điều khiển; độ rung cơ học của cụm servo khi di chuyển; và hệ thống mới chỉ được kiểm thử trong điều kiện phòng khô ráo, không hoạt động được dưới ánh nắng mặt trời trực tiếp, mưa gió hoặc môi trường nhiều bụi bẩn.
Kết luận
Đồ án "Thiết kế và thi công hệ thống phát hiện và tránh vật cản trên xe lăn điện cho người khuyết tật" đã hoàn thành việc tích hợp phần cứng và phần mềm cho một mô hình xe lăn điện có tính năng an toàn chủ động. Bằng cách kết hợp cảm biến RPLIDAR A1 với cơ cấu nghiêng servo SG90 trên nền tảng vi điều khiển kép Arduino Due và Arduino Nano, hệ thống đã mở rộng khả năng nhận diện vật cản từ mặt phẳng 2D sang không gian 3D với chi phí hợp lý. Các kết quả thực nghiệm khẳng định xe lăn có khả năng dừng tự động chính xác trước các chướng ngại vật và tường chắn ở cự ly cảnh báo 1,8 m, bảo đảm an toàn cho người sử dụng. Dù còn một số hạn chế về năng lực xử lý số lượng mẫu và điều kiện thời tiết ngoài trời, công trình đã xây dựng thành công cơ sở kỹ thuật và thực nghiệm rõ ràng, mở ra hướng ứng dụng thiết thực cho các hệ thống hỗ trợ di chuyển thông minh.