Chương 1: Sưu tập bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX. Chương 2: Diện mạo thành thị Thăng Long thế kỷ XV - XVIII qua “Hồng Đức bản đồ”. Chương 3: Diện mạo thành thị Thăng Long - Hà Nội qua hệ thống bản đồ thế kỷ XIX. * * * Trong quá trình thực hiện luận văn, với trách nhiệm và tình cảm, PGS.TS Vũ Văn Quân, TS Phan Phương Thảo đã dành cho tôi những ưu ái đặc biệt.TS Nguyễn Thừa Hỷ đã dành thời gian góp ý cho những luận điểm trong luận văn.
Tôi xin cảm ơn sự quan tâm của thầy cô dành cho tôi, trong công việc cũng như trong cuộc sống. Luận văn được hoàn thành dưới sự động viên, khích lệ của người thân trong gia đình, bạn bè. Ở đây, tôi bày tỏ sự biết ơn chân thành với những tình cảm mọi người dành cho tôi. Tôi cũng muốn nói lời cám ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, các phòng ban, anh chị em trong Viện, vừa là cơ sở đào tạo, vừa là nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, động viên, nhắc nhở tôi hoàn thành công việc.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng những vấn đề trình bày trong luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến phản hồi để luận văn có thể hoàn thiện tốt hơn. Chân thành cám ơn! 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 SƢU TẬP BẢN ĐỒ THĂNG LONG - HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX Bản đồ là hình thức thể hiện không gian có tính chất địa lý thuần túy nhưng khi sử dụng làm sử liệu thì bản thân nó và những thông tin, hình ảnh thể hiện cũng được nghiên cứu. Nhìn nhận không gian địa lý mà bản đồ thể hiện trên các yếu tố điều kiện tự nhiên, tác động của các hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử là điều cần thiết. Với chức năng kép, khu vực nghiên cứu là Thăng Long - Hà Nội được thể hiện trên bản đồ phải được xem xét trên nhiều góc độ để thấy được mối quan hệ khăng khít giữa tự nhiên và con người.
Tác động của điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX 1. Tác động của điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên Hà Nội trước khi được mở rộng nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có giới hạn tọa độ địa lý1: 20053’23” - 21023’00” độ vĩ Bắc 105043’40” - 106003’30” độ kinh Đông Khu vực nội thành gồm các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Tây Hồ, Hoàng Mai, Long Biên với 128 phường, diện tích 89,7km2. Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đặc trưng của khí hậu Hà Nội là nhiệt đới ẩm gió mùa. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.
Các tháng có lượng mưa trung bình cao là tháng VII và VIII. Mùa khô lượng mưa thấp và không ổn định qua các năm. Nhiệt độ trung bình năm của Hà Nội là 23oC, nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng VII) là 29,3oC, tháng lạnh nhất (tháng I) là 16,0oC. Như vậy, biên độ dao động nhiệt 1 Theo bản đồ địa hình và hành chính, tỉ lệ xích 1/100.000, tờ Hà Nội kí hiệu F-48.104 và tờ Hà Đông kí hiệu F- 48.116, in năm 1991 của Cục Bản đồ - Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong năm là 12,5oC. Cũng như nhiều nơi khác thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Hà Nội chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa. Trong phạm vi lãnh thổ Hà Nội, mạng lưới dòng chảy tự nhiên khá dày đặc, mật độ khoảng 0,5-1,0km/km2. Lớn nhất là sông Hồng với 93km chảy qua địa bàn.
Trong phạm vi nội thành Hà Nội còn có các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét. Ngoài ra, ở Hà Nội còn có rất nhiều hồ, đầm vừa tự nhiên vừa nhân tạo. Đó là các hồ Hoàn Kiếm, Bảy Mẫu, Thiền Quang, hồ Tây, Trúc Bạch, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Đống Đa, Xã Đàn, Ba Mẫu. với tổng diện tích mặt nước khoảng 3.
Chế độ thủy văn của hệ thống sông ở Hà Nội - điển hình là sông Hồng - hoàn toàn phụ thuộc theo mùa: mùa lũ và mùa cạn. Sông Hồng có lưu lượng nước lớn nhất ở Việt Nam đã gây cho Hà Nội nhiều thách thức vào mùa mưa (lũ lụt) và mùa khô (hạn hán, thiếu nước). Nằm ở hạ nguồn, nơi dòng sông bắt đầu phân nhánh để chia nước ra biển, đoạn sông Hồng chảy qua địa phận Hà Nội đặc biệt hung dữ vào mùa mưa khi phải đón nhận một lượng nước rất lớn từ thượng nguồn đổ về. Lưu lượng nước bình quân hàng năm đạt mức 2.640 m3/s với tổng lượng dòng chảy qua tới 83,5 triệu m3.
Lũ sông Hồng chủ yếu do các phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô gây nên. Hàng năm mùa lũ kéo dài 5 tháng (tháng VI - X dương lịch). Tháng có lưu lượng bình quân lớn nhất, đỉnh lũ là tháng VIII, bằng 15% tổng lượng nước cả năm, tương đương với lưu lượng 7 tháng mùa cạn (tháng XI đến tháng V năm sau). Tháng có lưu lượng nhỏ nhất là tháng III.
Mức nước báo động ở sông Hồng tại Hà Nội chia thành 3 cấp báo động số 1: 9,5 m; báo động số 2: 10,5m và báo động số 3: 11,5m. Lượng phù sa sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm, trong mùa lũ chiếm 90% tổng lượng phù sa cả năm [187, 49, 70]. Để bảo vệ an toàn cho người và tài sản, ngay từ thời xa xưa, hệ thống đê đã được xây dựng và ngày càng kiên cố hơn. Hiện nay, hệ thống đê sông ở Hà Nội (chủ yếu là đê sông Hồng và sông Đuống) có chiều dài trên 300km.
Đồng thời, đê sông cũng là tuyến đường giao thông quan trọng trên địa bàn Hà Nội. Lưu vực sông Hồng và sông Đuống chảy qua địa phận Hà Nội có nhiều đoạn theo quy luật hoạt động của dòng sông nhưng lại chịu thêm tác động của hoạt động nhân sinh làm cho nhiều đoạn hai bên bờ bị xói lở, gây ảnh hưởng tới các công trình xây dựng và sinh hoạt của người dân. Theo các kết quả nghiên cứu, xu hướng biến đổi của sông Hồng hiện nay là quá trình xâm thực ngang, xói lở các bãi bồi cao và bồi tụ các bãi bồi thấp. Dọc sông Hồng trong khu vực Hà Nội có thể chia thành ba đoạn chính sau: Đoạn Thượng Cát - Nhật Tân dài khoảng 10km có dòng chảy khá thẳng từ tây sang đông, bãi bồi bên bờ nam hẹp và có nơi đang diễn ra quá trình xói lở.
Các bãi bồi 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khu Đại Mạch, Tầm Xá rộng khoảng 1.800m, dài từ 4 - 5km bị chia cắt bởi các dòng chảy nhỏ. Đoạn Nhật Tân - bến Phà Đen dài khoảng 10km. Dòng chảy theo hướng tây bắc - đông nam mở rộng hơn so với đoạn trên, nhiều bãi bồi ven lòng, bãi giữa bị chia cắt bởi những dòng chảy nhỏ. Bãi giữa từ cầu Long Biên đến cầu Chương Dương đang có hiện tượng xói lở mạnh.
Đoạn Phà Đen - Vạn Phúc dài 14km, dòng chảy gần theo hướng bắc - nam, lòng uốn khúc gây xói lở ở Đông Dư, Bát Tràng, Duyên Hà. Hà Nội nằm trong một cấu trúc địa chất khá phức tạp. Giai đoạn trước Kainozoi (khoảng trước 65 triệu năm trước) là thời kỳ hình thành nên phần nền móng vững chắc của lãnh thổ Việt Nam, vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có vùng đất Thăng Long - Hà Nội. Giai đoạn Đệ tam kéo dài trong khoảng 50 triệu năm là khoảng thời gian xảy ra các hiện tượng và quá trình địa chất để tạo ra bộ mặt tự nhiên của vùng đất Hà Nội hiện nay.
Đây là giai đoạn hình thành lớp phủ trầm tích trên bề mặt bóc mòn của các thành tạo trong giai đoạn trước và là giai đoạn vùng trũng Hà Nội liên tục bị hạ lún. Trong thời kỳ này, Thăng Long - Hà Nội liên tục xảy ra sụt lún và mở rộng về hai phía đông bắc và tây nam từ trục trung tâm có hướng tây bắc - đông nam, có sự biến đổi dần từ điều kiện lục địa sang điều kiện của hồ đầm lầy lớn. Giai đoạn Đệ tứ (từ khoảng 1,6 triệu năm trước đến nay) là khoảng thời gian Hà Nội được hình thành với đặc điểm: có thời kỳ quá trình biển chiếm ưu thế, khi thì quá trình lục địa có vai trò chủ đạo. Bề mặt địa hình hiện nay của Hà Nội hầu hết là đồng bằng được cấu tạo bởi các trầm tích châu thổ nằm ở các mực độ cao khác nhau (từ 5 đến trên 20m).
Trong phạm vi thành phố Hà Nội, địa hình đồng bằng chiếm diện tích rất lớn, phân bố ở các quận nội thành, huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, một phần nhỏ ở huyện Đông Anh. Độ cao của bề mặt địa hình đạt từ 4 - 5 đến 8 - 10m so với mực nước biển. Quá trình hình thành, phát triển địa chất đã tạo nên một diện mạo tương đối bằng phẳng về mặt địa hình trên vùng nội thành Hà Nội hiện nay. Diện mạo tự nhiên của Hà Nội vào thế kỷ XI được Lý Thái Tổ - vị vua sáng nghiệp triều Lý khái quát “ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam - bắc - tây - đông, lại tiện hướng nhìn sông tựa núi.
Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Là thủ đô tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ, trên nền bồi tụ của sông Hồng, vùng nội thành Hà Nội nhanh chóng trở thành điểm cư trú đông đúc ở khu vực đồng bằng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắc Bộ. Đó là cơ sở tự nhiên, xã hội để Hà Nội trở thành trung tâm của đất nước vào thế kỷ X, được duy trì và giữ vững đến ngày nay.
Hình 1: Không ảnh Hà Nội - khu vực nghiên cứu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác động của các yếu tố sông hồ đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội Khi nghiên cứu những bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX, tất cả đều thể hiện dòng chảy của đoạn sông Hồng qua Hà Nội1. Đây là dòng chảy chính, án ngữ Hà Nội ở phía đông. Một hệ thống sông hồ khác được thể hiện khá chi tiết và nổi bật trên bản đồ là đoạn sông Tô Lịch và hồ Tây ở phía bắc, sông Kim Ngưu và dải hồ lớn ở phía nam.