Chương 1 Quang phổ phân giải thời gian trong nghiên cứu vật liệu nano 1. Tính chất quang của chấm lượng tử CdTe và hạt nano vàng Các tính chất quang của vật liệu nano phụ thuộc vào các thông số như kích thước, hình dáng, tính chất bề mặt, sự pha tạp, tương tác với môi trường xung quanh và dạng cấu trúc nano. Một ví dụ điển hình đó là sự dịch về bước sóng xanh (blue-shift) trong phổ hấp thụ và phát xạ của các hạt nano bán dẫn (QDs) khi kích thước hạt giảm dần, đặc biệt là khi kích thước đủ nhỏ.1 cho thấy phổ hấp thụ và màu sắc của các hạt nano có kích thước khác nhau của chấm lượng tử CdTe [4, 20]. Phổ hấp thụ (trái) và phổ phát xạ (phải) của chấm lượng tử CdTe bọc TGA (thiolglycolic acid) trong dung môi H2O.
Màu sắc của chấm lượng tử thay đổi từ đỏ đến xanh ứng với sự giảm dần kích thước trung bình của chấm lượng tử[4] Tương tự như vậy, hình dạng và kích thước cũng ảnh hưởng đáng kể đến tính chất quang của hạt nano kim loại.2 chỉ rõ phổ hấp thụ và màu sắc của hạt vàng hình cầu rỗng với sự thay đổi về đường kính và độ dày của hạt. Ta thấy rằng, bằng cách kiểm soát kích thước vật lý, có thể tạo ra các cấu trúc nano vàng với phổ hấp thụ bao gồm từ vùng nhìn thấy tới hồng ngoại gần. Các ví dụ trên cho thấy tính chất quang phong phú và hấp dẫn mà vật liệu nano có thể đem lại. Thật vậy, tính chất quang mới đã được thể hiện trên kích thước nano của kim loại, chất bán dẫn và đó là một trong những thuộc tính được khai thác nhất và thực sự hữu ích cho các ứng dụng công nghệ.
Đây cũng là hai loại vật liệu nano được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm và đã chế tạo thành công cũng như bước đầu đưa vào ứng dụng thử nghiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. (a) Phổ hấp thụ của hạt nano vàng dạng cầu rỗng (hollow gold nanosphere – HGN) với đường kính và độ dày khác nhau. Chấm lượng tử CdTe và cấu trúc exciton biên vùng Hình 1.1 cho ta thấy sự phụ thuộc của phổ hấp thụ và phát xạ lên kích thước chấm lượng tử.
Sự phụ thuộc này bởi hiệu ứng kích thước lượng tử của các hệ bán dẫn thấp chiều như giếng lượng tử (quantum wells), dây lượng tử (quantum wires) và chấm lượng tử (quantum dots). 3D ∝ E1 2 Density of state 2D ∝ E−1 2 0D ∝ const 1D ∝δ E Energy Hình 1. Hàm mật độ trạng thái trong chất bán dẫn khối (3D), giếng lượng tử (2D), dây lượng tử (1D) và chấm lượng tử (0D) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Khi kích thước theo các chiều của vật liệu giảm xuống tới thang nm (< 100 nm), hàm mật độ trạng thái (density of state - DOS) của vật liệu bán dẫn có sự thay đổi rõ rệt. Hàm DOS của vật liệu bán dẫn khối có dạng gần đúng theo hàm lũy thừa 1/2 của năng lượng.
Với giếng lượng tử, hàm DOS có dạng gần đúng theo hàm constant. Với dây lượng tử, hàm DOS có dạng gần đúng theo hàm lũy thừa -1/2 của năng lượng. Với chấm lượng từ, hàm DOS có dạng gần đúng theo hàm delta-dirac của năng lượng.[29] Chấm lượng tử là những tinh thể bán dẫn có kích thước nano mét ở cả 3 chiều. Các mức năng lượng trong chấm lượng tử bị lượng tử hóa, tách rời nhau giống như các mức năng lượng của nguyên tử (hình 1.
Khoảng cách giữa các mức năng lượng và năng lượng vùng cấm trong chấm lượng tử tăng theo sự giảm dần của kích thước[11, 29, 34, 49]. Chính vì lý do này mà chấm lượng tử có tính chất quang, điện đặc biệt hơn so với chất bán dẫn khối. Nhờ đó các chấm lượng tử có những ứng dụng hết sức to lớn trong rất nhiều lĩnh vực như quang điện tử, y sinh, thông tin lượng tử, …[19, 20, 22, 27] Các phương pháp chế tạo chấm lượng tử có thể đó là phương pháp eptaxy chùm phân tử, lithography và ăn mòn, phương pháp phổ biến để tổng hợp chấm lượng tử dạng keo đó là phương pháp hóa học. (a) E (b) CB CB E → k Egeff = E g +∆Eeff g VB VB Hình 1.
Cấu trúc vùng năng lượng của: (a) bán dẫn khối và (b) chấm lượng tử Bán dẫn CdTe là chất bán dẫn vùng cấm thẳng, có cấu trúc tinh thể kiểu kẽm pha (zincblende) với hằng số mạng 6.482 Å (tại 300 K)[55] năng lượng vùng cấm của CdTe thường được sử dụng là 1.606 eV, bán kính Borh exciton là 6.8 nm với năng lượng liên kết exciton (năng lượng Rydberg excition) là 10 meV[52]. Chấm lượng tử CdTe là những tinh thể CdTe có kích thước ba chiều cỡ nano mét. Năng lượng phân tách do lượng tử hóa trong chấm lượng tử CdTe cho bởi công thức:[49, 50] h 2π 2 1.1) 2µ R 2 εR TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Với h là hằng số Plank, R là bán kính chấm lượng tử, µ = 0.0774m0 (1 µ = 1 me∗ + 1 mh∗ ) là khối lượng rút gọn của một điện tử (khối lượng hiệu dụng của điện tử: me∗ = 0.0796m0 ) và một lỗ trống (khối lượng hiệu dụng của lỗ trống: me∗ = 0.4m0 ), m0 là khối lượng của điện tử, ℜ = 10meV là năng lượng Rydberg exciton, ε = 7.1 là hằng số điện môi. Rosen[6] thuộc viện nghiên cứu hải quân Wasington và các đồng sự tại học viện công nghệ Massachusetts công bố nghiên cứu về cấu trúc các exciton biên vùng (band-egde exciton, cặp liên kết điện tử đáy vùng dẫn và lỗ trống đỉnh vùng hóa trị) trong chấm lượng tử bán dẫn vùng cấm thẳng với cấu trúc mạng lập phương và lục giác.
Các exciton biên vùng là các trạng thái liên kết điện tử 1S e tại đáy vùng dẫn (suy biến bội hai với các hình chiếu spin ↑ (1 2 ) và spin ↓ ( −1 2 ) ) với lỗ trống 1S3 2 tại đỉnh vùng hóa trị (suy biến bội bốn với hình chiếu moment xung lượng tổng cộng M = ± 1 2, ± 3 2 ). Các trạng thái exciton biên vùng suy biến bội tám trong các chấm lượng tử dạng cầu đối xứng phân bố vào năm mức bởi hình dạng tinh thể không đối xứng, bản thân trường tinh thể (cấu trúc tinh thể mạng lục giác) và tương tác trao đổi của các cặp điện tử - lỗ trống. Hai trong năm trạng thái, gồm các trạng thái exciton cơ bản là những exciton tối (dark exciton). Cường độ dao động của ba mức còn lại, các exciton sáng (brigh exciton), phụ thuộc vào các tham số như kích thước, hình dạng, và các tham số vùng năng lượng của tinh thể.
Khoảng cách giữa trạng thái được phép đầu tiên (brigh exciton) và trạng thái cấm của exciton (dark exciton) tăng cùng với sự giảm về kích thước của tinh thể dẫn tới sự dịch Stoke tăng lên. Cấu trúc exciton biên vùng trong chấm lượng tử CdTe bao gồm các trạng thái exciton sáng ( 0U , ±1U , ±1L ) và các trạng thái exciton tối ( 0 L , ±2 ) (hình 1. Sự phụ thuộc kích thước của cấu trúc biên vùng exciton trong chấm lượng tử CdTe cấu trúc lập phương (zincblende) với thừa số ellipsoidal µ: (a) chấm cầu (µ = 0); (b) chấm cầu dẹt (µ = - 0.28); (c) chấm cầu dài (µ = 0.28)[6] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Một số các nghiên cứu khác chỉ ra sự tồn tại các trạng thái năng lượng bề mặt, các trạng thái bẫy – trap (trap states) nằm dưới đáy vùng dẫn của chấm lượng tử[20]. Các trạng thái này gây nên bởi sự sai hỏng mặt mạng tại bề mặt chấm lượng tử do sự thay đổi lực liên kết của các nguyên tử bề mặt tinh thể.
Để hạn chế điều này, các chấm lượng tử thường được bọc bởi lớp vỏ là các chất bán dẫn có độ rộng vùng cấm lớn hơn (tạo bờ thế hữu hạn), có cùng kiểu cấu trúc tinh thể và hằng số mạng phù hợp. Ví dụ đối với chấm lượng tử CdTe/CdS, với lớp lõi là CdTe và lớp vỏ là CdS (năng lượng vùng cấm 2.42 eV và hằng số mạng 5.8320 Å đối với cấu trúc tinh thể zincblende)[55]. Ngoài ra, khi các chấm lượng tử được chế tạo bằng phương pháp hóa học dưới dạng keo, các lớp vỏ là các chất hoạt động bề mặt giúp chấm lượng tử phân tán tốt trong dung môi và bảo vệ bề mặt chấm lượng tử như mercaptopropionic acid (MPA) hay mercaptosuccinic acid (MSA)[43], tuy nhiên trạng thái bề mặt cũng có thể tạo ra bởi ngay các liên kết với lớp vỏ này. Các trạng thái trap là nguyên nhân gây ra sự mở rộng phổ phát xạ của chấm lượng tử sang bước sóng đỏ và cũng là một trong các nguyên nhân gây ra hiện tượng nhấp nháy của các chấm lượng tử.
Sự tồn tại của các trạng thái exciton tối làm kéo dài thời gian sống trung bình của exciton trong chấm lượng tử. Một trong các phương pháp nghiên cứu các quá trình động học của exciton trong chấm lượng tử đó là sử dụng quang phổ phân giải thời gian mà chúng tôi đề cập trong chương 3. Hạt nano vàng Từ hình 1.2 chúng ta thấy sự phụ thuộc màu sắc hạt nano vàng theo kích thước và độ dày của hạt nano. Điều đó được giải thích bởi tiết diện tán xạ, phổ tán xạ và phổ hấp thụ của hạt nano vàng phụ thuộc vào kích thước hạt.
Màu sắc của hạt vàng chúng ta thấy được trên hình 1.2 là màu sắc truyền qua cuvette đựng hạt nano vàng của ánh sáng trắng. Tương tự, nếu chúng ta quan sát ngược trong nền tối và chiếu ánh sáng trắng tới các cuvette đựng các hạt nano vàng, màu sắc của các hạt vàng lúc này sẽ khác trước và đó là màu sắc của ánh sáng tán xạ ngược từ hạt nano vàng. Một tích chất quan trọng của hạt nano kim loại nói riêng và hạt nano vàng nói chung đó là tính chất hấp thụ cộng hưởng plasmon bề mặt (surface plasmon resonance). Vậy cộng hưởng plasmon bề mặt là gì, và sự phụ thuộc của nó theo kích thước hạt và các thông số khác ra sao?[35, 36] Theo lý thuyết gần đúng khí điện tử tự do trong kim loại của Drude.
Các điện tử dẫn (điện tử tự do) chuyển động trong tinh thể với các ion dương ở các nút mạng. Môi trường khí điện tử tự do và ion dương trung hòa về điện và được xét gần đúng như plasma. Xét trong môi trường plasma bao gồm khí điện tử tự do và ion dương. Nếu một khí điện tử dịch chuyển khỏi vị trí cân bằng, các ion dương thì vẫn định xứ, điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.