Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong đời sống xã hội, hôn nhân và gia đình là nền tảng xây dựng và duy trì sự ổn định của cộng đồng. Tuy nhiên, tình trạng kết hôn không tuân thủ các điều kiện luật định vẫn diễn ra, dẫn đến yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Theo tác giả Vũ Thị Mỹ Linh, việc hủy kết hôn trái pháp luật là vấn đề pháp lý phức tạp, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia mà còn tác động tiêu cực đến trật tự quản lý nhà nước và cấu trúc xã hội. Hệ quả của việc hủy bỏ này phát sinh trên nhiều phương diện: từ việc chấm dứt quan hệ nhân thân, chia tài sản, giải quyết quyền nuôi dưỡng con cái cho đến các tác động tâm lý đối với các bên liên quan. Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những bước tiến đáng kể trong việc quy định về hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ những bất cập, vướng mắc nhất định, chưa đáp ứng trọn vẹn yêu cầu đa dạng của thực tế đời sống.
Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật, đánh giá ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực thi và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng thực tế.
Nhiệm vụ và ý nghĩa của nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể theo các nội dung sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về việc hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý của sự kiện này, đặt trong mối quan hệ so sánh với chế định ly hôn và bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Hệ thống hóa, phân tích chi tiết các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh ba nhóm hậu quả pháp lý: quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các bản án xét xử cụ thể của Tòa án nhân dân, chỉ ra những điểm tích cực cùng những rào cản, mâu thuẫn phát sinh.
- Đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thi hành, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, góp phần hạn chế tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật. Về phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; thời gian nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp lý hiện hành, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có sự liên hệ lịch sử với các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình qua các giai đoạn trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng các lý thuyết pháp lý về quyền con người, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Khung pháp lý chủ đạo bao gồm:
- Hiến pháp năm 1946 (Điều 9) và Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 36);
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (trọng tâm là các Điều 3, 5, 8, 10, 11, 12, 16, 38, 39, 40, 43, 58, 59, 81, 82, 83, 84);
- Các đạo luật hôn nhân và gia đình trong lịch sử: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 (Điều 4, Điều 9) và năm 2000 (khoản 1 Điều 9, Điều 15, Điều 16);
- Các văn bản pháp luật dân sự, tố tụng liên quan: Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 18, 19), Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 22), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (khoản 3 Điều 57);
- Các văn bản pháp luật cổ và thời kỳ chuyển tiếp: Bộ luật Hồng Đức (các Điều 107, 316, 317, 318, 329, 334); Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936, Tập Dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883; Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950; Thông tư số 112/TT-TATC ngày 19/08/1972 của Tòa án nhân dân tối cao.
Về tình hình nghiên cứu, tác giả kế thừa kết quả từ các công trình chuyên khảo tiêu biểu: luận án tiến sĩ của tác giả Đức Thị Hoa (2021) về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý; các luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Tài Dương (2017), Nguyễn Tuấn Anh (2016), và Nguyễn Thành Đạt (2021) về hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý.
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:
- Phương pháp giải thích: Làm sáng tỏ nội hàm các thuật ngữ, khái niệm pháp lý chuyên ngành về kết hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý.
- Phương pháp phân tích: Giải mã các điều luật thực định nhằm làm rõ nội dung, bản chất và ý nghĩa của các quy định điều chỉnh quan hệ nhân thân, tài sản và con chung.
- Phương pháp bình luận: Đưa ra nhận xét, đánh giá khoa học về tính phù hợp, tính khả thi cũng như những hạn chế của pháp luật thực định và thực tiễn xét xử.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và so sánh sự khác biệt bản chất giữa hậu quả của hủy kết hôn trái pháp luật với hậu quả của ly hôn.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa toàn bộ các phát hiện lý luận và thực tiễn để xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu nghiên cứu lý luận và các bản án thực tiễn: Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 21/09/2022 của TAND huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) và Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST ngày 29/08/2023 của TAND huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hủy việc kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Phân tích khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tác giả khẳng định kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, gắn liền với việc tuân thủ các điều kiện luật định tại Điều 8. Khái niệm kết hôn trái pháp luật được quy định tại khoản 6 Điều 3, đó là việc nam nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn, bao gồm:
- Độ tuổi kết hôn: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên (sửa đổi cách tính tuổi so với Luật năm 2000 nhằm thống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự).
- Sự tự nguyện của hai bên: Không bị ép buộc, lừa dối hay cản trở.
- Năng lực hành vi dân sự: Không bị mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn: Kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn; vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi hoặc người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (Điều 5).
- Không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (khoản 2 Điều 8).
Tác giả chỉ ra rằng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm "hủy việc kết hôn trái pháp luật". Dựa trên định nghĩa từ ngữ của Đại từ điển tiếng Việt ("hủy" là phá bỏ, làm cho không còn tồn tại hoặc không có giá trị) và quy định tại Điều 4, Điều 9 Luật năm 1986, Điều 10 Luật năm 2014, tác giả đề xuất định nghĩa: "Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình, thể hiện thái độ phủ định của nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật".
Về hậu quả pháp lý, tác giả thực hiện phép so sánh có hệ thống giữa hủy kết hôn trái pháp luật và ly hôn:
| Tiêu chí so sánh |
Hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 12, 16) |
Ly hôn (Điều 58, 59) |
| Bản chất pháp lý |
Chấm dứt một quan hệ xác lập không hợp pháp; phủ nhận giá trị pháp lý của hôn nhân từ thời điểm đăng ký. |
Chấm dứt một quan hệ hôn nhân hợp pháp đã tồn tại trên thực tế theo phán quyết của Tòa án. |
| Hậu quả nhân thân |
Hai bên buộc phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng; coi như chưa từng phát sinh quan hệ vợ chồng; trở về tình trạng độc thân. |
Chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp; hai bên được xác nhận tình trạng đã ly hôn (đã từng có quan hệ vợ chồng). |
| Hậu quả tài sản |
Không áp dụng chế độ tài sản chung của vợ chồng. Giải quyết theo thỏa thuận; không thỏa thuận được thì chia theo công sức đóng góp căn cứ Bộ luật Dân sự (bảo vệ quyền lợi phụ nữ, con). |
Áp dụng nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng có tính đến các yếu tố hoàn cảnh, công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên (Điều 59). |
| Quan hệ cha mẹ - con |
Áp dụng tương tự như trường hợp ly hôn theo quy định tại Điều 58 (dẫn chiếu các Điều 81, 82, 83, 84). |
Giải quyết trực tiếp quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo các Điều 81, 82, 83, 84. |
Khảo cứu lịch sử quy định pháp luật qua các thời kỳ:
- Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Thời phong kiến, Bộ luật Hồng Đức quy định nghiêm ngặt các trường hợp cấm kết hôn (Điều 317 cấm khi có tang cha mẹ/chồng, Điều 318 cấm khi cha mẹ đang bị giam cầm, Điều 329 cấm họ hàng thân thích/vợ góa của anh em/thầy, Điều 107 cấm nô tì lấy dân tự do, Điều 316 cấm quan lại lấy con gái địa phương cai quản, Điều 334 cấm con quan biên giới kết hôn với con tù trưởng). Thời kỳ Pháp thuộc, ba bộ luật (Bộ dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936, Tập Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883) tuy ghi nhận quyền tự nguyện nhưng vẫn phụ thuộc sự đồng ý của cha mẹ.
- Giai đoạn 1945 - 1975: Điều 9 Hiến pháp năm 1946 khẳng định bình đẳng nam nữ. Sắc lệnh 97/SL và 159/SL năm 1950 từng bước bãi bỏ tàn dư phong kiến. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa quy định chi tiết về hủy kết hôn trái pháp luật, sau đó Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 112/TT-TATC ngày 19/08/1972 hướng dẫn buộc chấm dứt quan hệ vợ chồng và chia tài sản theo quyền sở hữu riêng hoặc giải quyết như ly hôn nếu có tài sản, con chung.
- Giai đoạn 1975 đến nay: Các đạo luật năm 1986, năm 2000 và năm 2014 dần hoàn thiện thẩm quyền xử lý của Tòa án và nguyên tắc giải quyết hậu quả về nhân thân, tài sản, cấp dưỡng và nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Chương 2: Nội dung về hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật căn cứ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2 phân tích chuyên sâu ba nhóm hậu quả pháp lý căn cứ Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
-
Hậu quả về quan hệ nhân thân (khoản 1 Điều 12): Hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. Pháp luật không thừa nhận tư cách vợ chồng giữa hai bên từ thời điểm đăng ký cho đến khi Tòa án tuyên hủy. Các quyền và nghĩa vụ nhân thân gắn liền với quan hệ vợ chồng (như quyền cùng sống chung, quyền thừa kế theo diện vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau) hoàn toàn không phát sinh hoặc lập tức chấm dứt. Tác giả dẫn chứng Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 21/09/2022 của TAND huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn): Tòa án tuyên hủy việc kết hôn giữa anh Dương Công C và chị Dương Thị T (đăng ký kết hôn ngày 06/12/2002 tại UBND xã C) do tại thời điểm đăng ký anh C mới 19 tuổi, vi phạm điều kiện độ tuổi quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật năm 2000. Tác giả cũng chỉ ra thực tế phức tạp: phán quyết của Tòa án chỉ mang giá trị pháp lý, trên thực tế nhiều cặp đôi vẫn tiếp tục chung sống do mối ràng buộc tình cảm, đòi hỏi phải nâng cao ý thức chấp hành và công tác tuyên truyền tại địa phương.
-
Hậu quả về tài sản (khoản 3 Điều 12 và Điều 16): Không hình thành chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
- Đối với tài sản riêng: Áp dụng nguyên tắc tài sản riêng của ai thuộc về người đó theo quy định tại Điều 43. Tuy nhiên, tác giả nêu rõ khó khăn trong việc chứng minh tài sản riêng khi không có đủ bằng chứng, dẫn đến nguy cơ tài sản bị chuyển thành sở hữu chung để phân chia. Tác giả phân tích tình huống thực tế giả định giữa anh C và chị D về tranh chấp căn nhà đứng tên anh C nhưng có công sức tu bổ, chăm sóc của chị D trong thời kỳ chung sống để làm rõ việc Tòa án phải áp dụng nguyên tắc đóng góp để phân chia giá trị.
- Đối với tài sản chung: Được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần. Pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được thì chia theo mức độ đóng góp căn cứ Bộ luật Dân sự, dựa trên ba tiêu chí cụ thể: mức độ đóng góp tài sản (vốn, tiền mua sắm), đóng góp lao động (thời gian, công sức tạo lập, duy trì) và đóng góp thu nhập. Đặc biệt, khoản 2 Điều 16 khẳng định nguyên tắc nhân văn: bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; coi công việc nội trợ và các công việc duy trì đời sống chung khác là lao động có thu nhập.
- Hậu quả về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con (khoản 2 Điều 12): Giải quyết tương tự như khi ly hôn theo Điều 58 và các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tính bất hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa cha mẹ không làm ảnh hưởng đến quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con cái:
- Quyền trực tiếp nuôi dưỡng: Ưu tiên sự thỏa thuận của cha mẹ. Nếu có tranh chấp, Tòa án quyết định dựa trên lợi ích toàn diện của trẻ. Con từ đủ 7 tuổi trở lên bắt buộc phải xem xét nguyện vọng. Con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho người mẹ nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc hai bên có thỏa thuận khác phù hợp hơn.
- Quyền thăm nom con (khoản 2 Điều 83): Người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền này để gây cản trở hoặc tác động xấu đến việc nuôi dạy trẻ.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng: Bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng theo phương thức thỏa thuận (hàng tháng, hàng quý, hàng năm hoặc một lần), dựa trên nhu cầu thiết yếu của con và khả năng tài chính thực tế của người cấp dưỡng.
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84): Tòa án xem xét thay đổi người nuôi con khi cha hoặc mẹ không còn đủ điều kiện, theo đề nghị của các bên hoặc của cơ quan quản lý gia đình, cơ quan quản lý trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết về hậu quả pháp lý khi hủy việc kết hôn trái pháp luật và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
Dựa trên việc theo dõi áp dụng quy định pháp luật trong thực tiễn, tác giả tổng kết bốn kết quả và thành tựu cơ bản:
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kết hôn trái pháp luật khi giúp họ thoát khỏi mối quan hệ bất hợp pháp để xác lập các quyền dân sự độc lập.
- Bảo vệ triệt để quyền lợi của con chung, bảo đảm trẻ không bị tước bỏ quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc và cấp dưỡng dù sinh ra trong cuộc hôn nhân vi phạm.
- Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong công tác xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân khi áp dụng căn cứ Điều 10, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Đóng góp vào tiến trình hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Tác giả đưa ra vụ việc thực tế điển hình qua Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST ngày 29/08/2023 của TAND huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang): Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Văn M do tại thời điểm đăng ký anh M mới 18 tuổi 10 tháng 2 ngày (chưa đủ 20 tuổi). Về con chung gồm cháu Nguyễn Thị Diễm Q (sinh ngày 05/11/2011) và cháu Nguyễn Thị Minh T (sinh ngày 13/06/2014), Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên, giao hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng thể hiện trong lời khai của các cháu; anh M không phải cấp dưỡng do chị H không yêu cầu và có quyền thăm nom không ai được cản trở. Vụ án chứng minh việc áp dụng chặt chẽ khoản 2 Điều 12 và các Điều 81, 82, 83 Luật năm 2014 vào việc bảo đảm quyền lợi tối đa cho con chưa thành niên.
Về phương hướng hoàn thiện, khóa luận định hình hai nhóm nội dung chính:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung định nghĩa chuẩn xác về hủy việc kết hôn trái pháp luật vào văn bản luật; chi tiết hóa các tiêu chí xác định công sức đóng góp đối với công việc nội trợ khi chia tài sản chung; hoàn thiện cơ chế xử lý trường hợp các bên vẫn tiếp tục chung sống sau khi có quyết định hủy kết hôn.
- Nhóm giải pháp tổ chức thi hành và phổ biến pháp luật: Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật hôn nhân tại cơ sở, nâng cao năng lực tư vấn, kiểm soát hộ tịch của cán bộ tư pháp xã/phường và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Tòa án với các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất và phân tích cụ thể các kết quả pháp lý thực tế:
- Khẳng định sự đồng bộ hóa quy định độ tuổi kết hôn tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ("nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên") với quy định về độ tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tại Điều 18, Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, khắc phục bất cập về cách tính tuổi của Luật năm 2000.
- Khai thác thành công các cứ liệu xét xử thực tế qua hai bản án cụ thể: Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST của TAND huyện Bắc Sơn (tuyên hủy hôn nhân xác lập năm 2002 do nam giới mới 19 tuổi) và Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST của TAND huyện Sơn Dương (hủy hôn nhân do nam giới kết hôn khi mới 18 tuổi 10 tháng 2 ngày, giao hai con chung sinh năm 2011 và 2014 cho mẹ nuôi dưỡng theo đúng nguyện vọng của trẻ).
- Chỉ ra các căn cứ xử lý tài sản theo Điều 16 Luật năm 2014: việc không thừa nhận chế độ tài sản chung hợp nhất, áp dụng nguyên tắc căn cứ đóng góp tài sản, đóng góp lao động và đóng góp thu nhập của Bộ luật Dân sự, đồng thời luật hóa giá trị kinh tế của công việc nội trợ.
Về đóng góp so với các công trình trước, khóa luận của tác giả Vũ Thị Mỹ Linh đã:
- Tự đề xuất một định nghĩa khoa học pháp lý hoàn chỉnh về "Hủy việc kết hôn trái pháp luật" để bù đắp khoảng trống lập pháp trong Luật năm 2014.
- Làm rõ tính đặc thù của việc xử lý hậu quả pháp lý hủy kết hôn so với ly hôn thông qua phân tích chuyên biệt ba nhóm quan hệ: nhân thân, tài sản và con chung.
- Đưa ra các phân tích thực tế về hiện tượng đương sự vẫn tiếp tục duy trì quan hệ sống chung sau phán quyết của Tòa án, từ đó kiến nghị các biện pháp mang tính thực thi thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát kinh nghiệm lập pháp quốc tế về hôn nhân vô hiệu hoặc hôn nhân thực tế.
- Nguồn số liệu thực tiễn và án lệ khai thác còn giới hạn ở các bản án sơ thẩm tại hai địa bàn cấp huyện (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), chưa có số liệu thống kê tổng hợp quy mô toàn quốc về số lượng các vụ việc hủy kết hôn trái pháp luật qua từng năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:
- Khảo sát toàn diện thực trạng thi hành án và tình hình xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp cố tình duy trì quan hệ sống chung như vợ chồng sau khi có quyết định hủy kết hôn của Tòa án.
- Nghiên cứu so sánh pháp luật về chế định hôn nhân vô hiệu giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, bao gồm việc giải quyết quyền lợi tài sản cho bên ngay tình khi tham gia quan hệ kết hôn trái pháp luật.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các học phần Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về điều kiện kết hôn, chế định hủy kết hôn trái pháp luật và quan hệ tài sản giữa nam nữ sống chung không đăng ký kết hôn.
- Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn, nhận diện các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn (về tuổi, sự tự nguyện, quan hệ huyết thống) để từ chối đăng ký trái luật.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân khi tham khảo đường lối xét xử, cách thức áp dụng Điều 12, Điều 16, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và ghi nhận nguyện vọng của con chung từ đủ 7 tuổi trở lên.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả đề xuất định nghĩa về "Hủy việc kết hôn trái pháp luật" như thế nào?
Dựa trên nghĩa từ vựng của từ "hủy" trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý kết hợp với các căn cứ tại Điều 8 Luật năm 2014, tác giả đề xuất định nghĩa: "Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình, thể hiện thái độ phủ định của nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật".
2. Điểm tương đồng duy nhất về hậu quả pháp lý giữa việc hủy kết hôn trái pháp luật và ly hôn là gì?
Điểm tương đồng duy nhất được tác giả chỉ ra là việc giải quyết hậu quả pháp lý về quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con. Theo khoản 2 Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định về ly hôn tại Điều 58 (dẫn chiếu các Điều 81, 82, 83, 84).
3. Trong Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST của TAND huyện Bắc Sơn, nguyên nhân nào dẫn đến việc hủy việc kết hôn?
Trong Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 21/09/2022, TAND huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn) tuyên hủy việc kết hôn giữa anh Dương Công C và chị Dương Thị T vì tại thời điểm đăng ký kết hôn (ngày 06/12/2002), anh C mới 19 tuổi, vi phạm điều kiện độ tuổi kết hôn của nam giới (phải từ 20 tuổi trở lên) theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
4. Nguyên tắc giải quyết tài sản chung khi hủy kết hôn trái pháp luật khác với ly hôn ở điểm nào?
Khi hủy kết hôn trái pháp luật, hai bên không được áp dụng nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng theo Điều 59. Thay vào đó, quan hệ tài sản được giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì chia theo mức độ đóng góp (tài sản, công sức lao động, thu nhập) dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự theo Điều 16 Luật năm 2014, trong đó công việc nội trợ vẫn được coi là lao động có thu nhập để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con.
5. Tại Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST của TAND huyện Sơn Dương, Tòa án đã giải quyết vấn đề con chung như thế nào?
TAND huyện Sơn Dương giao hai cháu Nguyễn Thị Diễm Q (sinh năm 2011) và Nguyễn Thị Minh T (sinh năm 2014) cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng theo đúng nguyện vọng của các cháu. Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu và anh M có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Mỹ Linh đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật. Thông qua việc phân định ranh giới pháp lý với chế định ly hôn và đánh giá các bản án xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân, tác giả đã làm rõ cơ chế bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản và quyền lợi của trẻ em. Các định hướng hoàn thiện quy định pháp luật cùng giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, áp dụng được đề xuất trong công trình mang giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực đối với lĩnh vực tư pháp hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.