Luận văn hành vi giết người - Lý luận và thực tiễn luật hình sự VN

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khái niệm, phân loại hành vi giết người trong Luật hình sự Việt Nam. Phân tích yếu tố cấu thành tội phạm, thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2012

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam

Hành vi giết người là một trong những loại tội phạm nghiêm trọng nhất, xâm phạm trực tiếp đến quyền sống – quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người. Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung 2017), hành vi giết người được định nghĩa là hành động cố ý tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật. Khái niệm này không chỉ bao gồm hành vi vật lý trực tiếp gây chết người mà còn có thể xuất hiện dưới dạng hành vi gián tiếp, như bỏ đói, đầu độc hoặc tạo điều kiện cho cái chết xảy ra. Phạm Thị Tuyết Hạnh (2012) nhấn mạnh rằng để cấu thành tội phạm liên quan đến hành vi giết người, cần đủ bốn yếu tố cấu thành: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Trong đó, yếu tố “cố ý” là then chốt để phân biệt với các hành vi vô ý dẫn đến chết người. Việc xác định rõ hành vi giết người giúp cơ quan tư pháp áp dụng đúng quy định pháp luật, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Ngoài ra, khái niệm này cũng là nền tảng để phân biệt giữa các tội danh như giết người, giết con mới đẻ, hoặc giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

1.1. Khái niệm pháp lý về hành vi giết người

Theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017), hành vi giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác. Yếu tố “cố ý” ở đây bao gồm cả cố ý trực tiếp (mong muốn hậu quả chết người xảy ra) và cố ý gián tiếp (nhận thức được hậu quả nhưng vẫn thực hiện). Đây là điểm cốt lõi để phân biệt với tội vô ý làm chết người (Điều 128).

1.2. Phân loại hành vi giết người theo mục đích và động cơ

Các nghiên cứu của Trần Văn Luyện (2001) và Phạm Thị Tuyết Hạnh (2012) cho thấy hành vi giết người có thể được phân loại dựa trên động cơ như: vì thù hằn, vì lợi ích cá nhân, do ghen tuông, hoặc do rối loạn tâm thần. Việc phân loại này hỗ trợ xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội và lựa chọn khung hình phạt phù hợp.

II. Những thách thức khi xác định hành vi giết người trong thực tiễn

Trong thực tiễn xét xử, việc xác định hành vi giết người gặp nhiều khó khăn do tính phức tạp của yếu tố tâm lý, hoàn cảnh phạm tội và chứng cứ. Một trong những vấn đề nổi bật là phân biệt giữa giết ngườigiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS). Nhiều vụ án xảy ra trong mâu thuẫn gia đình hoặc xô xát đột ngột khiến việc chứng minh “ý thức chủ quan” trở nên mơ hồ. Bên cạnh đó, ranh giới giữa hành vi giết ngườivô ý làm chết người cũng dễ bị nhầm lẫn, đặc biệt khi hậu quả chết người phát sinh từ hành vi không nhằm tước đoạt mạng sống. Phạm Thị Tuyết Hạnh (2012) chỉ ra rằng thiếu sót trong thu thập chứng cứ y khoa, tâm thần và lời khai nhân chứng thường dẫn đến sai lệch trong kết luận điều tra. Ngoài ra, sự chồng chéo giữa các tội danh như giết người để cướp tài sản (Điều 168) và giết người thông thường (Điều 123) cũng gây khó khăn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Những thách thức này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải có năng lực chuyên môn cao và phối hợp chặt chẽ với chuyên gia pháp y, tâm lý học.

2.1. Khó khăn trong chứng minh yếu tố cố ý

Yếu tố cố ý là trung tâm của hành vi giết người, nhưng lại khó chứng minh do mang tính nội tâm. Nhiều bị can phủ nhận động cơ giết người, trong khi chứng cứ gián tiếp (tin nhắn, lời nói trước khi phạm tội) lại không đủ sức thuyết phục. Điều này dẫn đến nguy cơ xử lý không chính xác.

2.2. Ranh giới giữa giết người và các tội liên quan

Việc phân biệt giết người với giết con mới đẻ (Điều 124) hoặc bức tử (Điều 130) phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, người mẹ giết con sau sinh có thể được giảm nhẹ nếu chứng minh được ảnh hưởng tâm lý sau sinh – yếu tố quyết định đến tính chất tội phạm.

III. Phương pháp phân tích hành vi giết người theo Bộ luật Hình sự hiện hành

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017) cung cấp hệ thống quy định chi tiết về hành vi giết người thông qua nhiều điều luật khác nhau. Phương pháp phân tích bắt đầu từ việc xác định khách thể – quyền được sống của con người – sau đó xem xét mặt khách quan: hành vi cụ thể, công cụ, phương tiện, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người. Tiếp theo là đánh giá chủ thể: người phạm tội phải đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với tội giết người. Cuối cùng, mặt chủ quan yêu cầu phải có lỗi cố ý. Các học giả như Phùng Thế Vắc và Trần Văn Luyện (2001) nhấn mạnh rằng phương pháp này giúp đảm bảo tính hệ thống và logic trong áp dụng pháp luật. Đặc biệt, khi hành vi giết người xuất hiện trong tội phạm đặc biệt như khủng bố (Điều 321) hay cướp tài sản (Điều 168), cần xem xét nó như tình tiết định khung hay yếu tố cấu thành độc lập. Việc vận dụng đúng phương pháp này giúp tránh tình trạng “gán ghép” tội danh và đảm bảo nguyên tắc pháp chế.

3.1. Phân tích cấu thành tội phạm liên quan đến hành vi giết người

Mỗi tội có hành vi giết người đều có cấu thành riêng. Ví dụ, tội giết người (Điều 123) yêu cầu động cơ rõ ràng, trong khi giết con mới đẻ (Điều 124) chú trọng hoàn cảnh tâm lý đặc biệt của người mẹ. Sự khác biệt này quyết định khung hình phạt và khả năng được giảm nhẹ.

3.2. Vai trò của chứng cứ trong xác định hành vi giết người

Chứng cứ vật chất (dấu vân tay, ADN, hung khí), chứng cứ y khoa (nguyên nhân tử vong) và chứng cứ nhân thân (tiền án, mối quan hệ với nạn nhân) đóng vai trò then chốt. Thiếu bất kỳ yếu tố nào có thể làm suy yếu luận cứ buộc tội.

IV. Ứng dụng thực tiễn Xử lý hành vi giết người trong các vụ án điển hình

Thực tiễn xét xử tại Việt Nam cho thấy hành vi giết người xuất hiện trong nhiều bối cảnh: từ mâu thuẫn cá nhân, bạo lực gia đình đến tội phạm có tổ chức. Một số vụ án nổi bật như vụ Lê Văn Luyện (2011) – giết người cướp tiệm vàng – cho thấy sự kết hợp giữa giết ngườicướp tài sản, dẫn đến mức án tử hình. Trong khi đó, các vụ án do ghen tuông hoặc stress tâm lý thường được xem xét tình tiết giảm nhẹ nếu đáp ứng điều kiện pháp lý. Theo báo cáo của Viện KSND Tối cao (2022), khoảng 65% các vụ giết người xuất phát từ mâu thuẫn dân sự nhỏ, cho thấy nhu cầu tăng cường hòa giải cộng đồng và can thiệp tâm lý sớm. Phạm Thị Tuyết Hạnh (2012) cũng đề xuất cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các tòa án về việc xác định “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” – yếu tố thường bị lạm dụng để xin giảm án. Việc áp dụng đúng quy định pháp luật không chỉ đảm bảo công lý cho nạn nhân mà còn răn đe hiệu quả đối với xã hội.

4.1. Phân tích vụ án giết người do mâu thuẫn gia đình

Nhiều vụ giết người trong gia đình xảy ra khi người phạm tội ở trong tình trạng căng thẳng kéo dài. Tòa án cần xem xét liệu có dấu hiệu của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không, dựa trên bằng chứng tâm lý và nhân chứng.

4.2. Xử lý hành vi giết người trong tội phạm có tổ chức

Khi hành vi giết người được thực hiện bởi nhóm có tổ chức (đồng phạm), trách nhiệm hình sự được phân chia theo vai trò: người thực hành, xúi giục, giúp sức. Điều này đòi hỏi điều tra kỹ lưỡng về thỏa thuận phạm tội và phân công vai trò.

V. Hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi giết người tại Việt Nam

Mặc dù Bộ luật Hình sự 2015 đã có nhiều cải tiến, vẫn tồn tại những khoảng trống trong điều chỉnh hành vi giết người. Phạm Thị Tuyết Hạnh (2012) đề xuất cần làm rõ hơn khái niệm “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” để tránh áp dụng tùy tiện. Đồng thời, nên bổ sung hướng dẫn về việc xử lý hành vi giết người trong môi trường số – ví dụ như xúi giục tự tử qua mạng xã hội – hiện chưa được quy định rõ. Ngoài ra, cần thống nhất cách hiểu giữa các cơ quan tố tụng về mối quan hệ nhân quả trong các vụ án gián tiếp (như từ chối cấp cứu dẫn đến chết). Việc hoàn thiện pháp luật không chỉ dựa trên lý luận mà còn phải phản ánh thực tiễn tội phạm đang thay đổi. Một số học giả đề nghị tham khảo mô hình của Đức hoặc Pháp, nơi có quy định chi tiết về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp rối loạn tâm thần tạm thời. Cuối cùng, đào tạo chuyên sâu cho thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên về tâm lý học tội phạm là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng xử lý các vụ án giết người.

5.1. Đề xuất sửa đổi khái niệm và tình tiết định khung

Cần sửa đổi Điều 125 BLHS để định nghĩa rõ ràng hơn về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, kèm theo tiêu chí đánh giá cụ thể từ chuyên gia tâm lý. Điều này giúp hạn chế tranh cãi trong xét xử.

5.2. Tăng cường đào tạo chuyên môn cho cơ quan tố tụng

Việc tích hợp kiến thức về pháp y tâm thần, phân tích hành vi và kỹ năng thẩm vấn sẽ giúp cơ quan tố tụng nhận diện chính xác hành vi giết người và động cơ phía sau.

VI. Tương lai của việc điều chỉnh hành vi giết người trong luật hình sự

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp, hành vi giết người có xu hướng đa dạng về phương thức và động cơ. Tội phạm mạng, bạo lực học đường, và khủng bố cá nhân có thể dẫn đến những hình thức giết người mới mà luật hiện hành chưa bao quát hết. Tương lai của luật hình sự Việt Nam cần hướng tới tính linh hoạt và dự báo rủi ro. Một xu thế quan trọng là chuyển từ xử phạt sang phòng ngừa – thông qua can thiệp tâm lý, giáo dục đạo đức và giám sát người có nguy cơ cao. Đồng thời, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu tội phạm có thể hỗ trợ dự báo và ngăn chặn hành vi giết người trước khi xảy ra. Theo khuyến nghị của các chuyên gia quốc tế, Việt Nam nên xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tội phạm giết người để phục vụ nghiên cứu và hoạch định chính sách. Cuối cùng, việc hội nhập quốc tế đòi hỏi luật hình sự phải tương thích với các chuẩn mực nhân quyền, đặc biệt trong việc đảm bảo xét xử công bằng và hạn chế án tử hình – vốn thường áp dụng cho các tội giết người đặc biệt nghiêm trọng.

6.1. Xu hướng phòng ngừa thay vì trừng phạt

Mô hình “justice reinvestment” – đầu tư vào cộng đồng thay vì nhà tù – đang được nhiều nước áp dụng. Tại Việt Nam, cần thí điểm chương trình can thiệp sớm cho người có biểu hiện bạo lực cực đoan.

6.2. Hội nhập quốc tế và chuẩn mực nhân quyền

Việt Nam cần rà soát các quy định về hành vi giết người để đảm bảo phù hợp với Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, đặc biệt trong việc áp dụng án tử hình và bảo vệ quyền bào chữa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 | MOT SO VAN DE CIIUNG VEL IIANII VI GIET NGUOL TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM. Khái niệm hành vi giết người Hiện nay trong khoa học luật hinh sự mới chỉ để cập nhiều về hành vi giét người với tư cách là mặt khách quan của tội Giết người còn khái niệm độc lập về hành vị giết người vấn chưa dược nêu ra. Khi xem xét hành vĩ giết người, mặc dủ vẻ mặt ly luận vac quan điểm đều xem xét hành vi giết người với Lư ách là mặt khách quan của tội siết người nhưng trên thực tổ đại da số các quan diêm lại thể hiện hành vi giết người và tộigiết người là một. Có thể thay rang khai niém hanh vi giết người sẽ rộng hơn khái niềm ti gidt người.

Do vậy cần thiết phải có cách hiểu để có thê phân biết, thong nhất về hai khái niệm này nhằm xác định mức độ nguy hiểm của hảnh vi trong quá trình xét xử và dấu Iranh phỏng chống loại tội phạm có liên quan. Chúng ta có thể dưa 1a một khái niêm đây đủ về hành vi giết người như sau: ¿/ảnh vì giết người là hành ví 15 03/2006; Trần Văn Luyện (2001), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khóe, danh dụ, nhân phẩm của con người, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Phùng Thế Vắc - Trân Vin Luyện, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, Nxb Công an nhân dân, 1à Nội, 2001; Lê Cảm, Chế định đồng phạm và mô linh J} luận của nó trong Luật ITình sự Tiệt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8/2003. Mặc dù cũng không phải ít các tác giả nghiên cứu về vấn dễ có liên quan dến hành vị giết người nhưng những công trình và bài viết nói trên mới chỉ để cập tới hành vị giết người ở những tôi phạm đơn lẻ, chưa thánh một hệ thông, Vì vậy, việc nghiên cửu hành vị giết người dược đặt trong hệ thống của các tôi phạm liên quan dến nó là thật sự cần thiết, từ dó tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về nhóm tội phạm này, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Mục đích và nhiệm vụ của dễ tài 3.

Mục dịch của việc nghiên cứu đề tái - Hiểu một cách đầy đủ khái niệm hành vi giết người; ~ Lâm sáng tổ cơ sở lý luận của loại tội phạm cú liên quan đến hành vị giết người; - Tìm hiểu một cách đây đủ hơn những quy định có liên quan đến hành vi giết người, - Làm sáng tỏ những nguyên nhân chủ quan và khách quan của một số tội phạm có liên quan đến hành vi giết người. Nhiệm vụ của đề tài - Nghiên cứu loại hành vi này trong một số tội phạm có liên quan; - Nghiên cứu, tìm hiểu những, nguyên nhân chủ quan và khách quan của một. số tội phạm có liên quan đến hành vi giết nguời; - Nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế của một số tôi phạm có liên quan đến hành VI BIẾt người; - Nghiên cứu, chỉ ra những bat cap, han chế, thiểu sót trong lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những giải pháp có cơ sở pháp lý và thực tiễn nắng cao tính khả thí cũng như nhằm hoàn thiên quy định của pháp luật hình, đồng thời nâng cao công tác phòng và chồng loại tội phạm có liên quan đến hảnh vì giết người. Phạm vi nghiên cứu “Mộtsố vấn dễ lý luận và thực tiễn về hành vi giết người trong luật hình sự Viết Nam" - Đề tài nphiên cứu hành vi giết người với tư cách là một yêu tổ cầu thành của loại tôi phạm có liên quan đến tỉnh mang con người, dồng thời từ việc nghiên cứu các yêu tổ cầu thành đưa ra một số điểm còn chưa rõ rảng khi phân biệt giữa các tội pham được cầu thành từ hành vĩ giết người với nhau và giữa một sô tội phạm được cấu thành từ hãnh vị giết người với một số tội phạm khác có liên quan đến tỉnh mạng, on người 5.

Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Chủ nghĩa đuy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênh. - Các phương pháp khác. Phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp thống kể, phương pháp tổng hợp, phương pháp dối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp chúng minh. - Nghiên cứu trên cơ sở nhận thức của tư tưởng IIồ Chỉ Ninh, đường lối, chính sách của Đăng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chú nghĩa 6.

Điểm mới của luận văn Luận văn lả công trinh đầu tiên đi sầu vào phần tích một cách toàn diện, đây đủ vả có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về những tội phạm có liên quan đến hành vi giết người. Cụ thể ~ Đưa ra dược khái niệm tương đối hành vi giết người - Khải quái, phân tích một cách có hệ thống các dấu hiệu pháp lý dặc trưng về một số các loại tôi phạm liên quan ‹ đến hành vị giết người. Déng thời cũng đưa ra đầu hiệu cơ bản để phân biệt hành vi giết người với những một số hành vỉ phạm tội khác có liên. quan đến tính mạng con người.

Ý nghĩa của luận văn ~ layin van sé 1A tai liêu tham khảo phuc vụ cho việc học tập, giảng dạy vá nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đảo tạo luật ở Việt ham, đặc biệt đôi với chuyên ngành tư pháp hình sự. - Dựa trồn sự phân ích lý luận vả tìm hiểu thực tiễn về tỉnh hình tội phạm liên quan đến hành v1 giết người, đưa ra những luận giải, những căn cử khoa học, để từ đó đưa ra kết luận, kiến nghị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tác phòng, chẳng tội phạm có liên quan. - Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu để tai có thể tham khảo để xây đựng đường lối, chính sách, quán lý xã hội, nhằm ngăn chặn và liên tới đẩy lùi tôi phạm có liên quan đến hành vi giết người, thức tỉnh đạo đức, lương tâm của người phạm tội Đề tải có thể được dùng lảm tự liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Kết cầu của luận văn Ngoàt phần mở dầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội đung của luận văn gôm 3 chương: Chương 1: Một số vẫn đề chung về hành vị giết người trong luật hình sự Việt Nam Chương 2- Một số tôi phạm có hành vì giết người trong luật hình sự Việt Nam.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hinh sự đối với một số tội phạm liên quan đến hành vi giêL người i. | Chương 1 | MOT SO VAN DE CIIUNG VEL IIANII VI GIET NGUOL TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM. Khái niệm hành vi giết người Hiện nay trong khoa học luật hinh sự mới chỉ để cập nhiều về hành vi giét người với tư cách là mặt khách quan của tội Giết người còn khái niệm độc lập về hành vị giết người vấn chưa dược nêu ra. Khi xem xét hành vĩ giết người, mặc dủ vẻ mặt ly luận vac quan điểm đều xem xét hành vi giết người với Lư ách là mặt khách quan của tội siết người nhưng trên thực tổ đại da số các quan diêm lại thể hiện hành vi giết người và tộigiết người là một.

Có thể thay rang khai niém hanh vi giết người sẽ rộng hơn khái niềm ti gidt người. Do vậy cần thiết phải có cách hiểu để có thê phân biết, thong nhất về hai khái niệm này nhằm xác định mức độ nguy hiểm của hảnh vi trong quá trình xét xử và dấu Iranh phỏng chống loại tội phạm có liên quan. Chúng ta có thể dưa 1a một khái niêm đây đủ về hành vi giết người như sau: ¿/ảnh vì giết người là hành ví 15 số ¥ tước bồ tính mạng người khác trái pháp luật, xâm phạm dẫn quyên được sống của cơn người. liành vị giết người bị coi là tội phạm trong luật hình sự các nước và tùy theo đặc diém cúa các trường hợp giết người mà cấu thành những tội phạm khác nhau, _ Đối với tội giết người, để phân biệt với hành vi giết người nói chung chúng ta có thể đưa ra dịnh nghĩa như sau như sau: Tội giết người là hành vì có ý gây ra cái chết cho người khác mội cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, trong đỏ phải đủ tôi chịu trách nhiệm hình sự do Hộ luật hình sự quy định (tir dit 14 tudi trở lên) 1.

Phân loại hành ví giết người 1. Căn cú phân loại Có nhiều căn cứ để có thể phân loại hành vi giết người, tuy nhiên có thể dựa vao những căn cử sau đây đê phân loại: - Căn cứ vào khách thể của hành vĩ giết người, - Căn cứ vào đối tượng tác động của hành vigiết người, - Căn cử vào chủ thể của hành vigiết người; - Căn cứ vào mức độ nguy hại của hành vi giết người; - Căn cứ vào mục đích, động cơ của hành vi giết người. Các loại hành vì giẪt người 1. Căn cứ vào khách thê của hành vì giết người Tựa vào căn cử này có thể phân loại các loại tội phạm dược cấu thành tử hành vi giết người thành hai nhóm: - Hành vi giết người xâm hại nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo về.

- Hanh vi giết người xâm hại một khách thể trực tiếp. Căn cứ vào đối tượng tác động của hành tí giêi người: Lựa vào căn cử này có thể phân loại các loại tôi phạm được cấu thành từ hành vi giết người thánh hai nhóm: - Nhóm các đối lượng tác đồng của hành vị giết người là những dối tượng không có đấu hiệu đặc biệt. - Nhóm các đối tượng tác động của hành vị piết người lả dối tượng dặc biệt 1. Căn cử vào chủ thể thực hiện hành vi giất người Dựa vào căn cứ này có thể phân loại các loai tôi pham được cầu thành tử hành vi giết người thành hai nhóm chủ thể thưởng và chú thể đặc biệt: - Chủ thể thường: Người thực hiện hành vi giết người là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hay người không có quốc tịch, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự.

- Chỗ thể đặc biệt: Người thực hiện hãnh vi giết người ngoài những đặc điểm của chủ thể thường thì dâu hiệu đặc biệt là dầu hiệu hắt buộc để cầu thành tội phạm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ