ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đối với cây chè vừa có tác dụng phòng ngừa sâu bệnh vừa giúp tăng năng suất, sản lượng. Tuy nhiên, khi lạm dụng hoặc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không đúng cách không chỉ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân canh tác chè. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phần lớn những người canh tác chè khi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật thường có các dấu hiệu nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật, theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh, Đỗ Hàm (2009) tỷ lệ người canh tác chè có biểu hiện hoa mắt, chóng mặt và đau đầu chiếm tỷ lệ rất cao (78,4 %; 77,9 % và 73,1% theo thứ tự). Bên cạnh đó, người canh tác chè còn bị mắc một số bệnh như bệnh mũi họng (86,9 %), bệnh về mắt (84,8 %), cơ xương khớp (63,7 %), tâm thần kinh (51,1 %) và da liễu (40,1 %) [11], [25].
Có nhiều nguyên nhân gây nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên nguyên nhân chính gây nhiễm hóa chất bảo vệ thực là do người canh tác không mang trang bị phòng hộ (89,5%); thuốc dính vào da khi pha chế (75,5%); do bình phun bị rò rỉ (35,0%); phun không đúng kỹ thuật (54,7%); phun với liều lượng cao hơn mức khuyến cáo và do sử dụng một số loại thuốc đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng [16]; do ít sử dụng kính mắt (4,0%) [7]; vứt chai lọ tùy tiện hoặc dùng lại sau khi phun (23,88%) [32]. Ngoài những nguyên nhân trên, việc thực hiện các hành vi không tắm rửa sau khi phun, không chú ý đến chiều gió, không chú ý đến thời tiết, thiếu kiến thức hoặc thái độ xem thường vệ sinh lao động ở người canh tác chè đều liên quan đến nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật [12], [14]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn c 2 Xã La Bằng là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Xã có tổng số dân là 3767 người trong đó có 40% là người dân tộc thiểu số.
Tổng diện tích của xã là 12,2 km2 với diện tích trồng chè toàn xã là 328ha. Phát triển cây chè là thế mạnh kinh tế của xã tuy nhiên trong quá trình canh tác, người canh tác chè phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật và đây là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sức khỏe của người canh tác chè. Đã có một số đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khỏe người canh tác chè nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật của người canh tác chè tại xã La Bằng. Để tìm hiểu về hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè tại xã La Bằng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên” với mục tiêu: 1.
Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè xã La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên năm 2011. Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật ở người canh tác chè. Giả thuyết nghiên cứu Hành vi dự phòng nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật có liên quan đến giới, dân tộc, trình độ học vấn, số năm canh tác chè, kiến thức, thái độ và truyền thông giáo dục sức khỏe. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Khái niệm hành vi Hành vi là “một phản ứng quan sát được của một người tới một tác nhân kích thích hoặc một hành động có thể vô thức hoặc có ý thức với mục đích, tần suất và khoảng thời gian cụ thể. Hành vi sức khỏe Hành vi sức khỏe (HVSK) là “những thuộc tính cá nhân như niềm tin, sự mong đợi, động lực thúc đẩy, giá trị, nhận thức, và kinh nghiệm; những đặc điểm về tính cách bao gồm tình cảm, cảm xúc; các loại hành vi, hành động, và thói quen có liên quan đến sự duy trì, phục hồi, và cải thiện sức khỏe” [3], [27]. Các yếu tố của hành vi sức khỏe Ba nhóm yếu tố chính góp phần hình thành và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi con người [26], [27], đó là: * Yếu tố tiền đề Yếu tố tiền đề là yếu tố bên trong của cá nhân, bao gồm: kiến thức, thái độ, niềm tin và giá trị xã hội. Nhóm yếu tố này quyết định cách ứng xử của mỗi chúng ta.
Kiến thức là sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng và bắt nguồn từ sự học tập, trải nghiệm và là yếu tố tiền đề/dẫn dắt đến hành vi. Ví dụ: bà mẹ không biết rõ lịch tiêm chủng (kiến thức) thì không đưa con đi tiêm chủng (hành vi). Thái độ là một phản ứng được đánh giá thích hay không thích hoặc khuynh hướng hướng tới sự vật, hiện tượng, một tình huống, một người, một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn c 4 nhóm người mà biểu hiện bằng niềm tin, cảm giác hoặc một hành vi dự định. Thái độ là yếu tố cơ bản dẫn đến hành vi.
Ví dụ: nếu người canh tác chè nhận thức rằng không đeo khẩu trang khi tiếp xúc hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) sẽ có nguy cơ nhiễm HCBVTV (thái độ), họ sẽ thực hiện đeo khẩu trang (hành vi). Niềm tin là sự tin tưởng chắc chắn rằng một sự kiện, quan điểm là đúng, là có thật mặc dù có thể không đúng, không có thật. Niềm tin này thường do cha mẹ, ông bà, và những người thân mà ta thương yêu, kính trọng truyền đạt, khuyên bảo hoặc có được từ kinh nghiệm bản thân. Người ta thường có xu hướng tiếp nhận niềm tin mà không kiểm chứng lại xem niềm tin đó có đúng không.
Ví dụ: có những nhóm người cho rằng phụ nữ có thai không nên ăn thịt một số động vật vì nếu ăn đứa trẻ sau này sinh ra có thể có hành vi hoặc một số đặc điểm giống như con vật mà người mẹ đã từng ăn (niềm tin), vì vậy họ sẽ không ăn thịt động vật (hành vi). Giá trị là điều mà chúng ta coi là quan trọng để định hướng cho các hành động. Khi được nhận thức một cách đầy đủ, các giá trị sẽ trở thành những tiêu chuẩn cho sự yêu thích và lựa chọn. Ví dụ: người tập thể dục thể thao thấy người khỏe mạnh, ăn ngon, ngủ tốt (giá trị) thì họ sẽ tiếp tục tập thể dục thể thao thường xuyên (hành vi).
* Yếu tố củng cố/duy trì Đó là những yếu tố ảnh hưởng từ người thân trong gia đình (cha mẹ, ông bà), thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, những người đứng đầu ở địa phương, người có chức sắc trong dòng tộc, tôn giáo. Họ là những người có uy tín, quan trọng trong cộng đồng và mọi người có xu hướng nghe và làm theo những người có uy tín, quan trọng đã làm. Ví dụ: học sinh thường rửa tay trước khi ăn nếu thấy thầy cô giáo cũng làm như vậy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn c 5 * Yếu tố điều kiện thuận lợi Đó là các yếu tố liên quan đến nguồn lực nói chung, bao gồm điều kiện sinh sống, việc làm, thu nhập, cũng như các chính sách và môi trường luật pháp.
Chẳng hạn như một người canh tác chè sau khi tiếp xúc với HCBVTV bị đau đầu, nôn muốn đi khám ở trạm y tế xã nhưng vì phải đi bộ quá xa nên đã không đến khám. Một số người muốn mua quần áo bảo hộ lao động nhưng do chi phí cao nên họ không thể mua, vì vậy họ vẫn tiếp tục canh tác chè mà không sử dụng bảo hộ lao động. Trong khi đó các khu vực chuyên canh chè có nhiều khu vực thuộc các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, điều kiện kinh tế xã hội còn thấp [14] cho nên sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi dự phòng nhiễm HCBVTV. Yếu tố về môi trường pháp luật như các quy định, luật pháp có tác động rất mạnh đến hành vi cá nhân.
Ví dụ: hiện tượng hút thuốc trong bệnh viện và trường học sẽ không xảy ra nếu qui định cấm hút thuốc và việc xử phạt người hút thuốc trong khu vực này được áp dụng một cách nghiêm ngặt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, kiến thức, thái độ, niềm tin ảnh hưởng đến hành vi phòng chống bệnh tật của người dân (yếu tố tiền đề)[13], [45]; theo nghiên cứu của Phạm Thị Tâm cho thấy các yếu tố tăng nguy cơ hút thuốc là gia đình có nhiều người hút thuốc lá và có thái độ ủng hộ hành vi hút thuốc (yếu tố củng cố) [24]. Do vậy, việc nghiên cứu rõ ràng các yếu tố của hành vi chính là cơ sở để can thiệp giúp cá nhân thay đổi hành vi theo hướng có lợi cho sức khỏe. Thuyết hành vi Có nhiều thuyết cơ bản về thay đổi cho hành vi sức khỏe như: mô hình giảm nguy cơ AIDS, mô hình các giai đoạn thay đổi, thuyết về hành động có lý do và mô hình BASNEF, mô hình niềm tin sức khỏe [26], [27], [41].
Tuy nhiên, thuyết mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) là mô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn c 6 hình được sử dụng phổ biến nhất trong khoa học hành vi sức khỏe để giải thích sự thay đổi/duy trì hành vi sức khỏe cá nhân cũng như hướng dẫn cho các can thiệp thay đổi hành vi sức khỏe. Mô hình này đã được phát triển trong những năm 1950 bởi nhà nghiên cứu tâm lý xã hội Mỹ Hochbaum, Rosenstock và Kegels để giải thích lý do người dân Mỹ không tham gia vào chương trình sàng lọc bệnh lao. Sau đó mô hình đã được tác giả Becker bổ sung thêm và xây dựng từ năm 1974 [37], [41]. Mô hình niềm tin sức khỏe đã được áp dụng để giải thích hành vi như hành vi xét nghiệm HIV của thanh niên trong nghiên cứu của tác giả Caroline W.
Các tác giả Hazavehei SM, Taghdisi MH, Saidi M đã sử dụng HBM trong nghiên cứu hành vi dự phòng bệnh loãng xương ở nữ học sinh trung học tại Garmsar, Iran [39].