Luận văn hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam - Lý luận và thực tiễn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hàng thừa kế theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, phân tích lý luận, thực tiễn áp dụng và đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xác định hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định những người có quyền hưởng di sản khi người để lại tài sản qua đời mà không có di chúc. Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế được chia thành ba bậc, dựa trên mối quan hệ huyết thống và hôn nhân với người chết. Việc xác định hàng thừa kế không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người thân mà còn góp phần hạn chế tranh chấp trong thực tiễn. Trong đó, thừa kế theo pháp luật áp dụng khi không có di chúc hợp lệ, di chúc vô hiệu hoặc người được chỉ định trong di chúc không còn sống hoặc từ chối nhận di sản. Mỗi hàng thừa kế có thứ tự ưu tiên rõ ràng: hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; hàng thứ hai gồm ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột; hàng thứ ba gồm cô, dì, chú, bác, cậu ruột. Việc hiểu rõ hàng thừa kế theo pháp luật giúp các bên liên quan chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

1.1. Khái niệm hàng thừa kế và cơ sở pháp lý

Hàng thừa kế được hiểu là nhóm người có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân nhất định với người để lại di sản, được pháp luật quy định có quyền hưởng di sản theo thứ tự ưu tiên. Cơ sở pháp lý chủ yếu là Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt là các điều 650, 651 và 652. Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và áp dụng thống nhất.

1.2. Các hàng thừa kế cụ thể theo Bộ luật Dân sự 2015

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ/chồng, cha mẹ đẻ/nuôi, con đẻ/nuôi. Hàng thừa kế thứ hai gồm ông bà nội, ông bà ngoại và anh chị em ruột. Hàng thừa kế thứ ba gồm cô, dì, chú, bác, cậu ruột. Chỉ khi không còn ai ở hàng trước, người ở hàng sau mới được hưởng di sản. Điều này thể hiện nguyên tắc “gần gũi trước, xa cách sau” trong thừa kế theo pháp luật.

II. Những thách thức khi áp dụng hàng thừa kế theo pháp luật

Mặc dù hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành đã được quy định rõ ràng, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là tranh chấp thừa kế giữa các thành viên trong gia đình do thiếu hiểu biết pháp luật hoặc do mâu thuẫn cá nhân. Nhiều trường hợp người thuộc hàng thừa kế không được thông báo kịp thời, dẫn đến việc mất quyền khởi kiện hoặc bị tước quyền hưởng di sản. Ngoài ra, sự phức tạp trong quan hệ hôn nhân – như ly hôn, tái hôn, con riêng – khiến việc xác định hàng thừa kế trở nên khó khăn. Đặc biệt, với sự gia tăng di dân và di sản xuyên biên giới, việc chứng minh quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân theo quy định pháp luật Việt Nam càng trở nên phức tạp. Các nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ tại Đại học Quốc gia Hà Nội (2007) chỉ ra rằng, gần 40% các vụ án dân sự liên quan đến thừa kế phát sinh từ việc áp dụng sai hoặc không rõ ràng về hàng thừa kế theo pháp luật.

2.1. Tranh chấp phát sinh từ việc xác định hàng thừa kế

Tranh chấp thường xảy ra khi có nhiều người cùng khẳng định mình thuộc hàng thừa kế thứ nhất, như giữa con riêng và con chung, hoặc giữa vợ/chồng cũ và hiện tại. Việc thiếu giấy tờ pháp lý (giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, giấy chứng tử) làm cho Tòa án gặp khó khăn trong việc xác minh quan hệ thừa kế. Điều này dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài và tốn kém chi phí.

2.2. Khó khăn trong chứng minh quan hệ huyết thống và hôn nhân

Trong nhiều trường hợp, đặc biệt ở vùng nông thôn hoặc với người cao tuổi, các giấy tờ pháp lý không đầy đủ. Việc chứng minh quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân hợp pháp trở thành rào cản lớn. Một số người thuộc hàng thừa kế bị loại khỏi danh sách chỉ vì không có bằng chứng pháp lý, dù trên thực tế họ có mối quan hệ thân thiết với người để lại di sản.

III. Phương pháp xác định hàng thừa kế đúng theo pháp luật

Để xác định hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành một cách chính xác, cần tuân thủ quy trình pháp lý nghiêm ngặt. Trước hết, phải xác định xem có di chúc hợp lệ hay không. Nếu không có hoặc di chúc vô hiệu, mới áp dụng thừa kế theo pháp luật. Tiếp theo, cần rà soát toàn bộ những người có quan hệ với người để lại di sản, phân loại theo ba hàng thừa kế được quy định. Việc này đòi hỏi thu thập đầy đủ giấy tờ như giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, quyết định công nhận con nuôi, v.v. Đặc biệt, cần lưu ý đến các trường hợp đặc biệt như thừa kế thế vị – khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm, cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha/mẹ lẽ ra được hưởng. Phương pháp này giúp đảm bảo công bằng và minh bạch trong phân chia di sản, đồng thời hạn chế rủi ro pháp lý về sau.

3.1. Quy trình xác định hàng thừa kế theo trình tự pháp lý

Quy trình bắt đầu bằng việc xác minh sự tồn tại của di chúc hợp lệ. Nếu không có, tiến hành lập danh sách người thân theo thứ tự hàng thừa kế. Sau đó, loại trừ những người bị truất quyền thừa kế theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. Cuối cùng, phân chia di sản theo nguyên tắc chia đều trong cùng một hàng, và chỉ khi hàng trước không còn ai thì hàng sau mới được hưởng.

3.2. Vai trò của thừa kế thế vị trong hàng thừa kế

Thừa kế thế vị là cơ chế pháp lý quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi của cháu khi cha/mẹ (con của người để lại di sản) chết trước. Điều này đảm bảo rằng dòng máu trực hệ không bị cắt đứt trong phân chia di sản. Tuy nhiên, thừa kế thế vị chỉ áp dụng trong hàng thừa kế thứ nhất, không mở rộng sang hàng thứ hai hoặc thứ ba.

IV. Trường hợp bị truất quyền hưởng di sản theo pháp luật

Không phải ai thuộc hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đương nhiên được hưởng di sản. Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ các trường hợp bị truất quyền thừa kế tại Điều 621. Những hành vi như cố ý xâm phạm tính mạng, hành hạ, ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản, hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng đều dẫn đến việc mất quyền thừa kế. Ngoài ra, người có hành vi lừa dối, ép buộc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm trục lợi cũng bị loại khỏi hàng thừa kế. Việc áp dụng điều này đòi hỏi bằng chứng rõ ràng và thường được Tòa án xem xét cẩn trọng. Đây là biện pháp răn đe nhằm bảo vệ ý chí và nhân phẩm của người để lại di sản, đồng thời duy trì đạo đức xã hội trong quan hệ gia đình.

4.1. Các hành vi dẫn đến truất quyền thừa kế

Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, các hành vi như cố ý xâm phạm tính mạng, hành hạ, ngược đãi nghiêm trọng, hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản là căn cứ pháp lý để truất quyền thừa kế. Ngoài ra, hành vi lừa dối hoặc ép buộc trong việc lập di chúc cũng bị coi là vi phạm nghiêm trọng.

4.2. Thủ tục và bằng chứng trong việc truất quyền

Việc truất quyền thừa kế không tự động có hiệu lực. Phải có bản án hoặc quyết định của Tòa án xác nhận hành vi vi phạm. Bằng chứng có thể là hồ sơ bệnh án, biên bản công an, lời khai nhân chứng, hoặc văn bản tố cáo đã được xác minh. Điều này đảm bảo quyền con người và tránh lạm dụng để loại trừ người thừa kế hợp pháp.

V. Ứng dụng thực tiễn của hàng thừa kế trong giải quyết tranh chấp

Trong thực tiễn tố tụng dân sự, hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết các vụ tranh chấp thừa kế. Tòa án dựa vào thứ tự hàng thừa kế để xác định nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhiều vụ án được giải quyết nhanh chóng nhờ áp dụng đúng quy định về thừa kế theo pháp luật, đặc biệt khi di sản không có di chúc. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng áp dụng sai do thiếu hiểu biết hoặc do áp lực xã hội. Các nghiên cứu từ Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, việc tư vấn pháp lý sớmhòa giải cơ sở giúp giảm đáng kể số vụ kiện liên quan đến hàng thừa kế. Ngoài ra, sự tham gia của công chứng viênluật sư trong quá trình khai nhận di sản cũng góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

5.1. Vai trò của Tòa án trong xác định hàng thừa kế

Tòa án có thẩm quyền xác minh quan hệ thừa kế, yêu cầu cung cấp giấy tờ, và ra quyết định cuối cùng về phân chia di sản. Trong nhiều trường hợp, Tòa án phải triệu tập nhiều bên liên quan để làm rõ mối quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân, đặc biệt khi có mâu thuẫn về quyền thừa kế.

5.2. Giải pháp hòa giải và tư vấn pháp lý

Việc hòa giải tại cơ sởtư vấn pháp lý miễn phí do các tổ chức đoàn thể cung cấp đã giúp nhiều gia đình tránh được tranh chấp kéo dài. Đặc biệt, ở khu vực nông thôn, mô hình “tổ hòa giải” đã phát huy hiệu quả trong việc giải quyết mâu thuẫn liên quan đến hàng thừa kế theo pháp luật.

VI. Hướng hoàn thiện pháp luật về hàng thừa kế trong tương lai

Pháp luật về hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành đã có nhiều bước tiến, nhưng vẫn cần hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn xã hội hiện đại. Một số đề xuất bao gồm: mở rộng hàng thừa kế để bao gồm người sống chung như vợ chồng (không đăng ký kết hôn), điều chỉnh quy định về thừa kế thế vị cho hàng thứ hai, và làm rõ hơn tiêu chí “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng”. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục pháp luật về thừa kế cho người dân, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Việc số hóa hồ sơ hộ tịch và liên thông dữ liệu quốc gia cũng sẽ giúp việc xác minh quan hệ thừa kế trở nên nhanh chóng và chính xác hơn. Những cải cách này không chỉ nâng cao hiệu lực pháp luật mà còn góp phần xây dựng xã hội công bằng, văn minh.

6.1. Đề xuất mở rộng phạm vi hàng thừa kế

Nhiều chuyên gia đề nghị bổ sung người sống chung như vợ chồng (không đăng ký) vào hàng thừa kế thứ nhất, nếu họ có con chung hoặc sống chung trên 3 năm. Điều này phản ánh thực tế xã hội hiện nay, nơi nhiều cặp đôi không đăng ký kết hôn nhưng vẫn có mối quan hệ gia đình bền vững.

6.2. Tăng cường minh bạch và số hóa trong thừa kế

Việc số hóa hồ sơ hộ tịch và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về quan hệ hôn nhân – huyết thống sẽ giúp giảm tranh chấp và tăng hiệu quả áp dụng hàng thừa kế theo pháp luật. Đây là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn hàng thừa kế theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu dé tai 'Thừa kế là một chế định quan trọng trong luật dâu sự nói riêng và rong pháp luật nói chung, bởi lẽ nó có mối quau hệ mật thiết, hữu cơ vớt quyền sở hữu tài sản mội trong những quyền cơ bản cửa con ng ời. Một bộ phậu không thể thiếu trong chế định uầy là những quy phạm điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật- hình thức thừa kế theo hàng thừa kế „ diễn kiện và trình tự thừa kế do pháp lnật quy định. NH vậy, quy định hàng thừa kế là một vấn đề then chốt trong điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật.

Qua xác dịnh bàng thừa Ý, ng ời ta có thể xem xét chữ thể nào có quyền h- ứng di sản của ng- ời chết để lại và phần di sân đ-ợc h- ng là bao nhiên. Do vậ: pháp luật về hàng thừa kế có những quy định khoa học, phù hợp với thực tiễn sẽ giúp cho việc giải quyết vấu đề thừa kế đ- ợc nhanh gọn. Ng- ợc lại, nó sẽ là nguyên nhân dẫn tới những tranh chấp, bất dồng. Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó.

các n-ớc trên thế giới luôn quan tám tới việc hoàn thiệu quy định pháp luật về hàng thừa kế. Với công tấc xây dựng pháp luậi về thừa kế, hay cụ thé hon là về hàng thừa kế cũngf ơng tự việc xây dựng bất kỳ quy phạm nào khác, nắm vững pháp luật biệu hành, phân tích đ- ợc những thành công cũng nh- tổn tại của nó, hiển rõ tình hình thực tiễn, cùng với một nhãn qnan sân rộng về tiến trình phát triển của lịch sử pháp luật n ớc nhà củng nh pháp luật 1-ơng ứng của các n- Gc trên thế giới sẽ giúp cho các nhà lập pháp xây dựng. d-ợc những quy định tối, có tính khả thì, đáp ứng như cầu xã hội một cách hiệu quả. Ởn- óc ta, pháp luật về thừa kế nói chung và pháp luật về hàng thừa kế nói riêng không ngừng d- ợc xây dựng, sửa đổi bổ sung cho phù hợp với Tình hình kinh tế xã hội.

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 d- ợc ban hành và có hiện lực từ ngày 01/01/2006 đánh đấu muội b- ớc tiến quan trọng trong lịch sử phép luat n- dc aba. ‘Trong 46, ubiing quy dinh vé hang thita ké ciiug véi toda bộ chế định thừa kế đã kế thừa nhiều quy phạm trong các văn bản tr ốc đây song cũng có một số thay đổi cơ bản. Trải qua một thời gian thực hiện dù ch- a phải là dai nh- ng với số l- ợng các vụ việc thừa kế theo pháp luật vốn đã diễn. ra phổ biến, cầng với sự phát triển đa dạng của các quan hệ sở hữu, nay lại xuất hiện ngày một nhiễu với tính chất phức tạp gia tăng, các quy phạm cũng đã đ-ợc áp dụng nhiều lần trong cuộc sống, dản bộc lộ những -u điểm cũng.

nh- hạn chế của chúng. Bởi vậy, b- ức dần, chúng ra cũng có thể d- a ra một số đánh giá về thực trạng pháp Tnật, trên cơ sở đó để xuất những giải pháp nhằm. hoàn thiện hơn nữa pháp luật hiện hành. Tình hình nghiên cứu dẻ tài Vấn để hàng thừa kế theo pháp luật đã từng đ-ợc nhắc đến trong một số công trình khoa học nh-: "bừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay" của Tiến sĩ Phùng Trang 'Tập; "Bình luận khoa học về †hủa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Hải đập về pháp luật thừa kế" của Giáo s-, Tiếu sĩ Định Văn Thanh và Trần Hữu Biêu; Luận văn Thạc sĩ luật học "Diện và bồng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005" của tác giả Phan Thị Kim Chỉ.

Ngoài ra, nhiều bài viết vẽ dể thí này cũng dã d- ợc đăng lãi trên các tạp chí Luật học, Nhà n- ức và pháp luật, Dân chủ và pháp luật, Tòa áu nhâu dân. Những bình luận sãu sắc, những ý kiến xác đáng về h ớng hoàn thiện pháp luật của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã đ ợc ghi nhận làm cơ sở hoàu thiện pháp luật vẻ thừa kế. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu khai thác trên phạm vi ơng đối rộng lớn, cố khi là toàn bộ chế định thừa kế hoặc tất cả các vấn để liên quan tới thừa kế theo pháp luật, hay công trình có phạm ví nghiêu cứu hẹp hơn cũng bao quái cả điện và hàng thừa kế, Với đề tài "Hàng thàu kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - Những vấn đề lý luận và thực tiến", chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề thừa ng di chết để lại kể từ thời điểm mở thừa kế thời điểm ng di có tài sản chết. Trong đó, thông th ờng, những ng ời thừa kế là những og di cing chung sống trong một gia đình hoặc những ng ời bà con thân thích khác của ng ời để lại di sản.

Do vậy, sự điều chỉnh pháp luật đối với loại quan hệ này bên. cạnh tiêu chí bảo đâm sự chiếm bữu, sử đụng, định đoạt di sẵu của những. ng ời thừa kế đ gc thuận lợi, cũng luôn cân tính đến yếu 16 phù bợp với đạo đức truyền thống, vău hóa dân tộc, từ đó gìn giữ tình đoàn kết, th ơng yêu giữa các thành viên trong gia đình, dòng tộc. Xuất phát từ ý nghĩa to lớn đó, pháp luật các n-ớc đều quan tâm tới vấn để thừa kế nới chung và các hình thức chia thừa kế nói riêng, sao cho đảm bảo sự dịch chuyển tài sản (- ơng đối đặc biệt này vừa chặt chẽ, thuận lợi, vừa bảo vệ đ ợc quyền hợp pháp của những ng- ời thừa kế.

leo đó, hai hình thức hừa kế đ- ợc quy định: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Thita ké theo di chúc là thừa kế theo ý chỉ d- ợc thể hiện trong di chúc của ng-ồi có tài sản. Trong đi chúc, ng- ði lập đi chúc chỉ dịnh một hoặc một số cá nhân, tổ chức là nạ- ời thừa kế một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Tuy nhiên, dĩ chúc đó có d- ợc thực hiện trên thực tế hay không phụ thuộc vào việc xác định tính hợp pháp của di chúc, đồng thời phải dựa trên khả năng, những ng- ời thừa kế theo di chúc còn sống hay dã chết tr- đc hoặc chết cùng một thời diễm với nạ- ời lập di chúc, cơ quan, tổ chức d- ợc h- ởng thừa kế theo di chúc cồn tôn tại hay không còn vào thời điểm mở thừa kế, nạ_ði d- ợc chỉ định làm ng- ời thừa kế theo di chúc có quyên hay không đ- ợc quyền nhận di sản, đồng ý hay từ chối nhận di san.

Pháp luật tr ớc hết tôn trọng sự tự định đoạt của ng ời lập di chúc cũng nh- sự tự nguyện của những ng-ời h- ởng thừa kế theo di chúc. Song, trong tr-ờng hợp nạ- ời chết không dễ lại di chúc, di chúc không dịnh đoạt loần bộ di sản hoặc bản dị chúc vì lý du chữ quan bay khách quan uào đồ mmà một phần hoặc toàn bộ nội dung của nó không thể thực hiện đ ợc, pháp luật phép luat n- dc aba. ‘Trong 46, ubiing quy dinh vé hang thita ké ciiug véi toda bộ chế định thừa kế đã kế thừa nhiều quy phạm trong các văn bản tr ốc đây song cũng có một số thay đổi cơ bản. Trải qua một thời gian thực hiện dù ch- a phải là dai nh- ng với số l- ợng các vụ việc thừa kế theo pháp luật vốn đã diễn.

ra phổ biến, cầng với sự phát triển đa dạng của các quan hệ sở hữu, nay lại xuất hiện ngày một nhiễu với tính chất phức tạp gia tăng, các quy phạm cũng đã đ-ợc áp dụng nhiều lần trong cuộc sống, dản bộc lộ những -u điểm cũng. nh- hạn chế của chúng. Bởi vậy, b- ức dần, chúng ra cũng có thể d- a ra một số đánh giá về thực trạng pháp Tnật, trên cơ sở đó để xuất những giải pháp nhằm. hoàn thiện hơn nữa pháp luật hiện hành.

Tình hình nghiên cứu dẻ tài Vấn để hàng thừa kế theo pháp luật đã từng đ-ợc nhắc đến trong một số công trình khoa học nh-: "bừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay" của Tiến sĩ Phùng Trang 'Tập; "Bình luận khoa học về †hủa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Hải đập về pháp luật thừa kế" của Giáo s-, Tiếu sĩ Định Văn Thanh và Trần Hữu Biêu; Luận văn Thạc sĩ luật học "Diện và bồng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005" của tác giả Phan Thị Kim Chỉ. Ngoài ra, nhiều bài viết vẽ dể thí này cũng dã d- ợc đăng lãi trên các tạp chí Luật học, Nhà n- ức và pháp luật, Dân chủ và pháp luật, Tòa áu nhâu dân. Những bình luận sãu sắc, những ý kiến xác đáng về h ớng hoàn thiện pháp luật của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã đ ợc ghi nhận làm cơ sở hoàu thiện pháp luật vẻ thừa kế. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu khai thác trên phạm vi ơng đối rộng lớn, cố khi là toàn bộ chế định thừa kế hoặc tất cả các vấn để liên quan tới thừa kế theo pháp luật, hay công trình có phạm ví nghiêu cứu hẹp hơn cũng bao quái cả điện và hàng thừa kế, Với đề tài "Hàng thàu kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - Những vấn đề lý luận và thực tiến", chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề thừa dự liệu việc chia thừa kế theo pháp luật.

Đó là hình thức thừa kế theo điều kiện và Irình tự thừa kế do pháp luật quy định. Tr- ớc một vụ việc thừa kế theo pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét những ai là đối 1- ơng có thể đ- ợc h ởng thừa kế, và sắp xếp họ theo các trình tự nh thế nào để nhận di sẵn trên thực tế. Thừa kế theo pháp Inật chỉ đành cho các cá nhãn thuộc diện thừa kế- phạm vi những ng_ời đợc thừa kế theo pháp luật, h ông di sản của ng_ ði chết để lại. Những ng- ời đó có một hoặc một số quan hệ gia đình với ng- ời để lại đi sản trong ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống và nuôi d dng, Tuy nhiên, không phải tất cả những ngời thuộc diện thừa kế đều d- ợc h-ởng di sản cùng mội lúc xà họ đ- ợc h- ởng theo trình tự nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ