CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA KHOAN KINH PHI TRONG THUC HIEN NHIỆM VỤ KH&CN CUA NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “nghiên cứu và triển khai” Nghiên cứu và triển khai (R&D) là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới”.
Thuật ngữ R&D bao hàm 3 loại hoạt động: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm 1. Các loại hình nghiên cứu và triển khai -Nghiên cứu cơ bản: Là công việc thực nghiệm hoặc lý thuyết được thực hiện chủ yêu dé nhận được tri thức mới về nền tảng năm bên dưới hiện tượng hoặc sự việc quan sát được, không nhằm vào bat kỳ một ứng dụng hoặc sử dụng cụ thể nào. Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản có định hướng. Đối với nghiên cứu cơ bản thuần tuý là những nghiên cứu được thực hiện dé thúc day sự tiến bộ của tri thức mà không nhằm tìm kiếm các lợi ích kinh tế hoặc xã hội lâu dài hoặc không có bat cứ một cố gang nào dé đem ứng dụng kết quả vào các van đề thực tiễn hoặc chuyên giao kết quả cho các khu vực chịu trách nhiệm ứng dụng chúng.
Nghiên cứu cơ bản có định hướng được thực hiện với hy vọng đem lại một cơ sở tri thức rộng lớn có thể tạo nền tảng cho việc giải quyết các vấn đề hiện tại hoặc tương lai, đã được nhận biết hoặc được kỳ vọng. Ÿ Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển-Tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 của tổ chức OECD, Nhà xuất ban Lao động, Hà Nội, 2004 (Trong tiếng Anh, “R&D” : Research and Experimental Development, có nghĩa là Nghiên cưú va triển khai thực nghiệm. Đề tài sử dụng thuật ngữ nghiên ctru-trién khai cho sát với thuật ngữ tiêng Anh) 15 -Nghiên cứu ứng dụng: Cũng là hoạt động nghiên cứu ban đầu đề nhận được các tri thức mới, nhưng chủ yếu nhằm vào một mục đích hoặc mục tiêu thực tế cụ thé. -Trién khai thực nghiệm: La hoạt động mang tính hệ thống, dựa vào tri thức hiện có, được tiếp thu từ công việc nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn, nhằm tạo ra các vật liệu, sản phẩm và thiết bị mới, lập ra các quy trình, hệ thống và dịch vụ mới, hoặc cải tiễn đáng kê những thứ đã được sản xuất hoặc lập ra.
Trong khoa học xã hội, có thể định nghĩa triển khai thực nghiệm là quá trình biến tri thức nhận được từ nghiên cứu thành các chương trình tác nghiệp, ké cả các dự án trình diễn được thực hiện nhằm mục đích thử nghiệm và đánh giá. Nhiệm vụ KH&CN Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những van đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết, được tô chức thực hiện dưới hình thức dé tài, dự án, chương trình khoa học và công nghệ, mỗi hình thức có mục đích khác nhau. -Đề tài: Có nội dung chủ yếu nghiên cứu về một chủ đề khoa học và công nghệ. Mục đích của đề tài là định hướng vào trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế.
Đề tài có thể dừng ở khâu nghiên cứu khoa học nhưng nhánh đề tài nghiên cứu ứng dụng thì kéo dài đến cả giai đoạn triển khai thực nghiệm. Đề tài có thê độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình khoa học và công nghệ. -Dự án: có nội dung chủ yếu tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ; áp dụng, thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Cụ thể hơn, dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thé về kinh tế và xã hội.
Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn lực. Dự án có thể độc lập hoặc thuộc chương trình khoa học và công nghệ. 16 -Chương trình khoa học và công nghệ bao gồm một nhóm các đề tài, dự án, được tập hợp theo một mục đích xác định nhăm thực hiện mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ cụ thể hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Giữa các đề tài, dự án thuộc một chương trình có thể có tính độc lập tương đối cao, nhưng những nội dung của một chương trình phải đảm bảo tính đồng bộ.
Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định trong Luật KH&CN được tô chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án và các hình thức khác. Theo phân cấp quản lý các nhiệm vụ KH&CN, chúng ta có nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước, nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp tỉnh và nhiệm vụ nghiên cứu cấp cơ sở. Đối với các nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước và cấp Bộ có sử dụng ngân sách nhà nước thì thường hay được sử dụng nhất, kế cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình KH&CN là đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm. Nhưng ở cấp tỉnh thì thường tập trung ở hai dạng: đề tài và dự án ứng dụng KH&CN.
Trong phạm vi khuôn khổ của nghiên cứu này thì khái niệm về các nhiệm vụ KH&CN của nhà nước được coi là các đề tài, dự án KH&CN. Có một điểm rất chung giữa các nhiệm vụ KH&CN đã nêu ở trên đó là đều sử dụng các yếu tô đầu vào thê hiện dưới các nội dung công việc: điều tra, khảo sát, hội nghị, hội thảo; một số nhân lực KH&CN; một số trang thiết bị và một số nguyên vật liệu cần thiét,.dé đạt được các sản phâm KH&CN. Vì vậy, chất lượng của sản phẩm đạt được phụ thuộc cơ bản vào các yếu tố đầu vào này. Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai Trong mọi trường hợp, sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và triển khai là thông tin, bất kể đó là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ.
Tuy nhiên chúng ta không thê tiếp xúc trực tiếp với thông tin, mà chỉ có thé tiếp xúc với thông tin qua các phương tiện trung gian là vật mang thông tin. Vật mang thông tin về các kết quả nghiên cứu khoa học có thể bao gồm: vật mang vật lý, vật mang công nghệ, vật mang xã hội. 17 Tuy thuộc tinh chất của từng dé tài mà có các dạng sản pham: -Sản phẩm có chỉ tiêu định lượng có thể đo đếm được: mẫu, vật liệu, thiết bị, máy móc, giống cây trồng, vật nuôi. -Sản phâm mang tính chất định tính hoặc chủ yếu là định tính, khó xác định được băng các chỉ tiêu định lượng cụ thể: quy trình công nghệ, phương pháp, giải pháp, mô hình, bản đồ, bảng số liệu,.
Các sản phẩm của các hoạt động nghiên cứu và triển khai còn được thể hiện dưới các hình thức: các bài báo (trong đó chứa đựng các sản phẩm là các phát hiện, phát minh) và sáng chế; sản phẩm có thé bao gồm cả sản pham dao tao (dao tạo thạc sỹ, tiền sy). Cũng có quan niệm cho rang, sản phẩm của hoạt động KH&CN gồm có ba loại: Thứ nhất là các công bố khoa học dưới dạng các bài báo gốc trình bày các kết quả mới được công bố trên các tạp chí có uy tín có sự phản biện của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn; Thứ hai là các bằng sáng chế được bảo hộ trong và ngoài nước bởi các cơ quan chuyên môn; Thứ ba là những nghiên cứu ứng dụng, thực chất là việc thử nghiệm các kết quả có sẵn ở điều kiện cụ thể nào đó, nhất là điều kiện trong nước” Khi xem xét các sản pham của nghiên cứu và triển khai ở các khía cạnh “khả năng áp dụng vào sản xuất/đời sống” và “giá trị thương mại” thì không phải loại sản phẩm nào cũng có thể áp dụng trực tiếp được vào sản xuất hay đời sống ngay hay cũng chưa thé có giá trị thương mai được. Bang 1: So sánh phát hiện, phát minh, sáng chế” Phát hiện Phát minh Sáng chế Kha năng áp Không trực tiếp, | Không trực Có thể áp dụng dụng vào sản sản | mà phải qua các tiếp, mà phải | trực tiếp hoặc phải xuất và đời sống giải pháp vận qua sáng chế qua thử nghiệm 5 Lê Trần Bình, Đổi mới cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN, http: www.vn, cập nhật ngày 21/8/2008 „ 7 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 18 dụng Giá trị thương Không Không Mua bán patent và mại licence (Nguồn: Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB KH&KT, Hà Nội, 2005) 1. Chính sách KH&CN Chính sách là tập hợp biện pháp của một chủ thê quản lý, nhằm kích thích động cơ hoạt động của một hoặc một số nhóm có vai trò động lực trong việc thực hiện mục tiêu phát triển xã hộiŸ.
Theo UNESCO định nghĩa, “Chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt được mục đích phát triển quốc gia và nâng cao vị trí quốc gia trên thế giới”. Chính sách KH&CN là những phương châm, điều lệ, quy định. Đó là những nguyên tắc và quy tắc của một nhà nước, một ngành trong một thời kỳ nhất định va với một mục tiêu chiến lược nhất định đặt ra nhằm phát triển KH&CN. Như vậy, có thê hiểu chính sách KH&CN là một tập hợp các biện pháp mà chủ thé quan lý sử dung dé tác động lên đối tượng quản lý (các tổ chức KH&CN) nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án là chính sách KH&CN. Vì vậy nó là biện pháp mà các nhà quản lý KH&CN xây dựng và sử dụng đê làm công cụ quản lý các đê tài, dự án. Š Vũ Cao Dam, Phân tích chính sách, Hà Nội, 2005 ? Dang Duy Thịnh, Bài giảng về Chính sách KH&CN 19 1. Cơ sở lý luận về khoán kinh phí trong thực hiện các đề tài, dự án 1.
Khái niệm về khoán kinh phí Theo “Đại từ điển kinh tế thị trường”: Khoán kinh phí là một biện pháp quản lý mà tài chính nhà nước xác định số ngân sách hàng năm về kinh phí hành chính sự nghiệp của don vi, cuối năm chỉ trội không bù, kết dư được giữ lại dùng.