Tổng quan nghiên cứu

Quá trình toàn cầu hóa tài chính và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình WTO đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đồng bộ hóa hệ thống kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế. Bộ Tài chính đã ban hành 26 Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS), đạt tỷ lệ tương thích tổng thể khoảng 95% theo khảo sát năm 2007. Tuy nhiên, hệ thống kế toán công cụ tài chính tại các tổ chức tín dụng mới chỉ đáp ứng khoảng 50% so với thông lệ quốc tế do thiếu vắng các hướng dẫn chuyên sâu về phân loại, ghi nhận và đo lường theo giá trị hợp lý.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tiễn hoạt động ngân hàng, nơi tài sản tài chính chiếm tới hơn 90% tổng tài sản nhưng khung pháp lý hiện hành, tiêu biểu là Thông tư 210/2009/TT-BTC, mới chỉ dừng lại ở mức hướng dẫn trình bày và thuyết minh. Luận văn tập trung vào 3 mục tiêu cụ thể: đánh giá mức độ hài hòa về chuẩn mực (de jure) giữa các quy định của Việt Nam với IAS/IFRS; đo lường mức độ tuân thủ thực hành kế toán (de facto) về công bố thông tin; và kiểm định mối quan hệ tương quan giữa chuẩn mực văn bản với thực tế áp dụng.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu tài chính của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011 để phân tích thực trạng, đồng thời khảo sát sâu báo cáo tài chính năm 2011 của 25 ngân hàng nhằm đo lường mức độ hài hòa thực hành ngay khi Thông tư 210 có hiệu lực. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống 92 chỉ tiêu đối chiếu chuẩn mực và 14 tiêu chí thuyết minh, làm tiền đề khoa học cho lộ trình áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hài hòa kế toán quốc tế với việc phân định rõ hai trạng thái: hài hòa về chuẩn mực (de jure) thể hiện tính nhất quán của văn bản pháp lý, và hài hòa về thực hành (de facto) phản ánh mức độ tuân thủ thực tế của doanh nghiệp. Quá trình hài hòa hóa hướng tới thu hẹp khoảng cách dị biệt để nâng cao khả năng so sánh báo cáo tài chính, khác biệt với chuẩn mực hóa vốn đòi hỏi sự đồng nhất tuyệt đối trên phạm vi toàn cầu.

Khung chuẩn mực kế toán quốc tế áp dụng xuyên suốt bao gồm 4 văn bản cốt lõi: IAS 32 quy định về phân loại và trình bày công cụ nợ, vốn chủ sở hữu; IAS 39 và IFRS 9 thiết lập các nguyên tắc ghi nhận ban đầu, xóa sổ và đo lường tài sản tài chính theo 3 nhóm chính là giá trị hợp lý thông qua kết quả kinh doanh (FVTPL), giá trị hợp lý thông qua thu nhập toàn diện khác (FVOCI) và nguyên giá phân bổ (AC) bằng phương pháp lãi suất thực; IFRS 7 định khung yêu cầu công bố thông tin định tính và định lượng về rủi ro; IFRS 13 hướng dẫn kỹ thuật đo lường giá trị hợp lý.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước ban hành (tiêu biểu như Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN, Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 210/2009/TT-BTC), kết hợp báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2007 - 2011. Cỡ mẫu đánh giá thực trạng gồm 31 ngân hàng thương mại (5 ngân hàng nhà nước và 26 ngân hàng cổ phần). Cỡ mẫu đánh giá thực hành gồm 25 ngân hàng thương mại tiêu biểu (3 ngân hàng nhà nước và 22 ngân hàng cổ phần) trong năm tài chính 2011, đại diện cho hơn 85% tổng quy mô tài sản toàn hệ thống.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện và tính sẵn có của dữ liệu kiểm toán độc lập. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích cơ cấu tài sản nợ, đồng thời xây dựng bảng kiểm tra gồm 92 khoản mục đối chiếu đo lường độ gần gũi với thang điểm từ 0 đến 3 kế thừa phương pháp nghiên cứu quốc tế để kiểm định giả thuyết H1. Chỉ số thuyết minh nhị phân (0-1 điểm) trên 14 tiêu chí IFRS 7 được ứng dụng để kiểm định giả thuyết H2 và H3. Việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng giúp lượng hóa chính xác khoảng cách giữa văn bản pháp lý và thực tiễn hoạt động ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài sản tài chính chiếm tỷ trọng áp đảo từ 88,19% đến hơn 96,00% tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân giai đoạn 2007 - 2011 của khối ngân hàng cổ phần đạt 139,92%, vượt trội so với mức 118,73% của khối ngân hàng nhà nước. Hoạt động cho vay khách hàng duy trì tỷ trọng lớn nhất, chiếm trên 60,00% tổng tài sản ở ngân hàng nhà nước và trên 40,00% ở ngân hàng cổ phần. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào nợ tài chính với tỷ lệ trên 84,00%, trong đó tiền gửi khách hàng chiếm từ 47,66% đến 68,30%.

Thứ hai, kết quả đánh giá 92 khoản mục chuẩn mực cho thấy hệ thống kế toán Việt Nam chưa đạt được sự hài hòa de jure với IAS/IFRS. Khác biệt lớn nhất nằm ở khâu ghi nhận ban đầu và đo lường sau ghi nhận: Việt Nam chủ yếu ghi nhận theo giá gốc, trong khi IFRS 9 yêu cầu phân loại dựa trên mô hình kinh doanh và đo lường theo giá trị hợp lý kết hợp phương pháp lãi suất thực.

Thứ ba, khảo sát 14 tiêu chí thuyết minh tại 25 ngân hàng thương mại chỉ ra mức độ hài hòa de facto không đồng đều. Tỷ lệ công bố các chính sách kế toán cơ bản đạt trên 80,00%, nhưng mức độ công bố định lượng về đo lường giá trị hợp lý và phân tích độ nhạy cảm rủi ro thị trường đạt dưới 30,00%. Số lượng ngân hàng toàn hệ thống tăng từ 4 đơn vị năm 1990 lên 98 đơn vị năm 2012 (tăng 24,5 lần), nhưng năng lực minh bạch thông tin tài chính phức tạp vẫn còn nhiều rào cản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch bắt nguồn từ cơ chế quản lý song trùng giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Các quy định của Ngân hàng Nhà nước tập trung ưu tiên mục tiêu an toàn hệ thống và giám sát thận trọng, do đó việc trích lập dự phòng rủi ro nợ vay tuân thủ quy định phân loại nợ định lượng theo ngày quá hạn hơn là mô hình tổn thất tín dụng dự kiến của IFRS 9.

So sánh với các nghiên cứu tại thị trường mới nổi như Trung Quốc hay Thụy Điển, mức độ tuân thủ thực hành của Việt Nam phản ánh đúng quy luật: sự hài hòa về văn bản chuẩn mực là điều kiện cần nhưng chưa đủ để tạo ra sự hài hòa trong thực hành. Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa rõ nét qua các bảng cơ cấu tài sản tài chính 5 năm và biểu đồ phân bổ tần số xếp hạng độ gần gũi, chứng minh rằng khi chuẩn mực chưa bắt buộc đo lường giá trị hợp lý, các ngân hàng có xu hướng chỉ công bố thông tin ở mức tối thiểu để đối phó quy định.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Tài chính cần chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước khẩn trương ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam riêng biệt về công cụ tài chính trên cơ sở tiếp thu đầy đủ IFRS 9 và IFRS 13, đặt mục tiêu nâng mức độ hài hòa de jure từ 50% lên trên 85% trong lộ trình 3 đến 5 năm tới.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng thị trường tài chính, bao gồm việc hoàn thiện thị trường trái phiếu thứ cấp và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm độc lập trong giai đoạn 2014 - 2018. Giải pháp này nhằm cung cấp đường cong lãi suất chuẩn và giá thị trường đáng tin cậy, giúp các ngân hàng thương mại có căn cứ xác định giá trị hợp lý cấp độ 1 và cấp độ 2.

Thứ ba, các ngân hàng thương mại cần chủ động tái cấu trúc hệ thống công nghệ thông tin Core Banking, đầu tư phần mềm quản trị rủi ro tự động và tổ chức đào tạo chuyên sâu về IFRS cho tối thiểu 70% nhân sự phòng kế toán - nguồn vốn trong vòng 18 tháng, nhằm đáp ứng yêu cầu tính toán dòng tiền chiết khấu theo lãi suất thực.

Thứ tư, Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng cần đưa bộ 14 tiêu chuẩn công bố thông tin theo IFRS 7 vào khung đánh giá giám sát định kỳ, thiết lập chế tài xử phạt hành chính đối với các trường hợp cố tình che giấu rủi ro thị trường, hướng tới mục tiêu 100% ngân hàng thương mại niêm yết công bố minh bạch mức độ nhạy cảm rủi ro.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước) - Sử dụng kết quả đánh giá 92 khoản mục đối chiếu làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam và sửa đổi các thông tư kế toán ngân hàng.

Nhóm 2: Ban điều hành, Giám đốc tài chính (CFO) và Kế toán trưởng các ngân hàng thương mại - Áp dụng bộ chỉ số thuyết minh 14 tiêu chí để rà soát khoảng trống thông tin trên báo cáo tài chính, chuẩn bị nguồn lực chuyển đổi hệ thống kế toán.

Nhóm 3: Các công ty kiểm toán độc lập và chuyên gia phân tích đầu tư - Sử dụng khung phân tích độ gần gũi để đánh giá chất lượng tài sản tài chính, mức độ trích lập dự phòng và rủi ro thanh khoản thực chất của các tổ chức tín dụng.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán - Kiểm toán - Khai thác phương pháp luận kết hợp kiểm định de jure và de facto để phát triển các đề tài nghiên cứu mở rộng trong lĩnh vực kế toán quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Kế toán công cụ tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam có mức độ hài hòa thế nào so với IAS/IFRS? Mức độ hài hòa chuẩn mực chỉ đạt khoảng 50%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hài hòa chung 95% của 26 chuẩn mực VAS. Khác biệt lớn nhất là Việt Nam chưa áp dụng đầy đủ các nguyên tắc đo lường theo giá trị hợp lý và phương pháp lãi suất thực theo IAS 39 và IFRS 9.

Thông tư 210/2009/TT-BTC đã giải quyết được toàn diện các vướng mắc về kế toán công cụ tài chính chưa? Thông tư 210 mới chỉ hướng dẫn trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính theo IAS 32 và IFRS 7. Văn bản này chưa đưa ra các nguyên tắc hạch toán, ghi nhận ban đầu và đo lường tổn thất theo IAS 39 hoặc IFRS 9, khiến các ngân hàng gặp lúng túng khi thực thi.

Tại sao các ngân hàng thương mại Việt Nam gặp khó khăn khi công bố giá trị hợp lý của tài sản tài chính? Thị trường tài chính thứ cấp chưa phát triển đồng bộ, thiếu thanh khoản và chưa có hệ thống định mức tín nhiệm chuẩn hóa. Dưới 30% ngân hàng khảo sát công bố giá trị hợp lý do không có đủ dữ liệu thị trường độc lập để định giá các khoản nợ và chứng khoán chưa niêm yết.

Hài hòa về mặt văn bản chuẩn mực (de jure) có tự động mang lại sự hài hòa về thực hành (de facto) không? Không hoàn toàn. Kết quả nghiên cứu 25 ngân hàng cho thấy việc ban hành văn bản mới chỉ tạo điều kiện pháp lý cần thiết. Nếu thiếu chế tài giám sát, hạ tầng công nghệ và thị trường định giá, các ngân hàng chỉ tuân thủ mang tính hình thức ở các chỉ tiêu đơn giản.

Các ngân hàng thương mại cổ phần hay ngân hàng nhà nước có tốc độ tăng trưởng tài sản tài chính cao hơn? Giai đoạn 2007 - 2011, khối ngân hàng thương mại cổ phần có tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân đạt 139,92%, cao hơn khối ngân hàng nhà nước đạt 118,73%. Tuy nhiên, ngân hàng nhà nước duy trì cơ cấu tài sản tài chính ổn định hơn với tỷ trọng trên 96% tổng tài sản.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán công cụ tài chính theo IAS 32, IAS 39, IFRS 7 và IFRS 9, thiết lập khung so sánh chuẩn mực với thực tiễn Việt Nam.
  • Kết quả định lượng chỉ ra tài sản tài chính chiếm hơn 90% bảng cân đối kế toán ngân hàng nhưng mức độ hài hòa chuẩn mực de jure mới chỉ đạt khoảng 50%.
  • Thực hành công bố thông tin de facto của 25 ngân hàng thương mại năm 2011 cho thấy sự phân hóa mạnh, đạt tỷ lệ cao ở chính sách chung nhưng rất hạn chế ở rủi ro thị trường và giá trị hợp lý.
  • Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải đồng bộ hóa lộ trình pháp lý giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo nhằm thúc đẩy tính minh bạch tài chính.
  • Các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng nâng cấp hệ thống công nghệ và nguồn nhân lực để chuẩn bị sẵn sàng cho việc áp dụng bắt buộc chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS.