Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀO DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp 1. Khái niệm góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp Theo Từ điển Kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc xuất bàn năm 2006, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, “vốn” được định nghĩa là “giá trị của tư bản, hàng đầu tư hay tài sản chính (tiền) được sử dụng vào mục đích kinh doanh” [tr. Vốn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, là điều kiện tiên quyết, mang ý nghĩa quyết định đối với mọi giai đoạn trong quy trình sản xuất, kinh doanh.
Do đó, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có những chủ trương, chính sách để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là tổng thể giá trị những tài sản ứng ra lúc ban đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp, thường được quy đổi bằng “tiền”.TS Lê Thị Châu nêu quan điểm: Góp vốn vào doanh nghiệp là việc một cá nhân hay tổ chức theo một trình tự, thủ tục nhất định chuyển tài sản của mình như tiền, hiện vật định giá được bằng tiền hoặc các quyền về tài sản vào doanh nghiệp và được hưởng các quyền và các nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp định nghĩa góp vốn là việc nhà đầu tư đưa tài sản vào doanh nghiệp bằng các hình thức khác nhau để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu của doanh nghiệp. Từ Luật Công ty 1990 đến Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014 và mới nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, đều đưa ra khái niệm về góp vốn.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa về góp vốn (tại khoản 4 Điều 4) là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty. Tài sản góp vốn có thể là vàng; tiền Việt Nam, ngoại tệ được tự do chuyển đổi; giá trị QSDĐ; giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật; các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do các thành viên góp để tạo thành vốn của công ty. Tại khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 định 7 nghĩa góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.
Khoản 1 Điều 35 quy định chi tiết về tài sản góp vốn có thể là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị QSDĐ, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam. Theo quy định mới nhất trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, tại khoản 1 Điều 34 thì tài sản góp vốn có thể là vàng, tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, QSDĐ, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng tiền đồng Việt Nam. Điểm a, khoản 1 Điều 36 quy định rõ hơn là đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc QSDĐ thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc QSDĐ cho công ty theo quy định của pháp luật. Bản chất pháp lý của việc góp vốn là chuyển tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Vì thế, hành vi góp vốn có thể được xem xét trên nhiều góc độ bao gồm cả kinh tế và pháp lý. Xét ở góc độ kinh tế, góp vốn là một trong những hình thức tích tụ tư bản. Thông qua việc góp vốn, doanh nghiệp chuẩn bị nguồn lực nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi chủ đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp, tài sản đó được chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng từ chủ đầu tư (thành viên góp vốn) sang doanh nghiệp.
Việc chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng tài sản có thể thông qua các loại hình hợp đồng như: Hợp đồng góp vốn, hợp đồng thành lập doanh nghiệp… Các chủ đầu tư thông qua việc góp vốn, chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng tài sản vào doanh nghiệp để nhận về quyền lợi của mình trong doanh nghiệp. Pháp luật và điều lệ doanh nghiệp xác định những quyền lợi này cho thành viên góp vốn. Có thể hiểu rằng, việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý tưởng kinh doanh vì mục đích thu lợi nhuận được gọi chung là góp vốn. Xét ở góc độ pháp lý, góp vốn là hành vi chuyển giao các quyền đối với tài sản là vốn góp để nhận về quyền lợi đối với doanh nghiệp.
Nghĩa vụ đối ứng giữa người góp vốn vào doanh nghiệp khác với nghĩa vụ đối ứng giữa các bên trong quan 8 hệ mua bán hay gia công ở chỗ quyền lợi mà người bỏ tiền ra nhận lại là một thứ đặc quyền: quyền sở hữu công ty. Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp vốn nhưng phải phù hợp với sự thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào đối tượng góp vốn, có thể phân loại góp vốn thành các hình thức khác nhau. Ngoài quy định chung thì xuất phát từ đối tượng góp vốn, mỗi hình thức góp vốn sẽ có quy chế, chế định về pháp lý riêng.
Các hình thức góp vốn có tính phổ biến hiện nay là góp vốn bằng các loại tài sản như tiền, hiện vật, quyền tài sản…; góp vốn bằng tri thức; góp vốn bằng công nghệ và các hình thức mới khác… Đất đai là tài nguyên vô giá, là thành phần cốt lõi của môi trường sống, là nơi phân bố dân cư và diễn ra các hoạt động sống, là nguồn tư liệu sản xuất trọng yếu trong nông nghiệp, sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội… Việc phân bổ đất đai luôn là vấn đề hết sức quan trọng của mọi quốc gia, bởi vì qua đó, quyết định lợi ích, sự công bằng đối với từng người dân và thể hiện sự thành công hay thất bại của một chế độ chính trị. Vấn đề bao nhiêu đất đai, thuộc về những ai và để làm gì luôn là vấn đề mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì thế, sở hữu đất đai luôn là vấn đề hết sức phức tạp do những đặc điểm khác biệt của đất đai so với tài sản, tài nguyên thiên nhiên khác. Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là Nhà nước.
Tuy nhiên, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ để chuyển giao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác. Trong quá trình sử dụng đất, bên cạnh quyền khai thác sử dụng đất, NSDĐ còn được chuyển nhượng QSDĐ. Có thể thấy rằng chế định đặc thù của pháp luật Việt Nam là QSDĐ. Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Đất đai là một bất động sản, ở góc độ quyền sử dụng một loại tài sản thì quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai chính là QSDĐ. Khi xem xét ở góc độ này, QSDĐ là khái niệm pháp lý chỉ một trong những quyền của chủ sở hữu đất đai. Từ Hiến pháp năm 1992 đến nay, quyền của NSDĐ ngày càng được mở rộng, chứ không chỉ là quyền khai thác và sử dụng đất. Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013, NSDĐ ngoài những quyền chung đối với đất đai thì còn được thực hiện các 9 giao dịch về QSDĐ như chuyển đổi mục đích sử dụng, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho và góp vốn như những giao dịch về tài sản khác.
Tuy nhiên, không phải tất cả chủ thể sử dụng đất đều có đầy đủ 8 quyền nêu trên, mà tùy thuộc vào chủ thể sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước để xác lập và thực hiện những quyền này. Về bản chất, QSDĐ bao gồm một số quyền của mà Nhà nước đóng vai trò là chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho NSDĐ. Tuy nhiên, Nhà nước không chuyển giao tất cả các quyền của chủ sở hữu cho NSDĐ mà chỉ chuyển giao một số quyền, trong đó bao gồm quyền góp vốn. Điều đó có nghĩa là, mặc dù QSDĐ là một quyền tài sản nhưng lại không đơn thuần chỉ là quyền khai thác những thuộc tính có ích của đất mà còn bao hàm cả quyền được giao dịch nó như giao dịch các loại tài sản khác.
Đây chính là yếu tố làm cho QSDĐ mang bản chất gần với quyền sở hữu đất đai. Pháp luật quy định về việc thực hiện hành vi giao dịch QSDĐ của NSDĐ tương tự quyền định đoạt của chủ sở hữu. QSDĐ là một quyền phái sinh từ quyền sở hữu đất đai. Vì thế, dù NSDĐ có được giao dịch QSDĐ, nhưng các quyền này bị hạn chế và chi phối bởi ý chí của đại diện chủ sở hữu đất đai là Nhà nước.
Xét trên phương diện lý luận, rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập về khái niệm góp vốn bằng QSDĐ. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì góp vốn bằng QSDĐ được định nghĩa là một sự thỏa thuận giữa các bên mà NSDĐ được quyền góp phần vốn của mình bằng QSDĐ để hợp tác sản xuất, kinh doanh và sự thỏa thuận này phải tuân theo điều kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai quy định. Lần đầu tiên việc góp vốn bằng QSDĐ được quy định là tại Luật đất đai năm 1993, sau đó là trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và Luật Đất đai năm 2003. Các văn bản pháp luật này đã tạo tiền đề về mặt pháp lý để NSDĐ có thể góp vốn bằng QSDĐ nhằm mục đích hợp tác sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất ….