Giáo trình Thí nghiệm đá nghề Kiểm tra chất lượng Cầu đường bộ Trình độ Trung cấp

Giáo trình thí nghiệm đá nghề cung cấp kiến thức về kiểm tra chất lượng cầu đường bộ cho trình độ trung cấp, hỗ trợ học viên nâng cao kỹ năng.

Chuyên ngành

Thí Nghiệm Đá Nghề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2023

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá giáo trình thí nghiệm đá nghề cầu đường bộ A Z

Giáo trình thí nghiệm đá là tài liệu nền tảng, không thể thiếu trong chương trình đào tạo trung cấp nghề thí nghiệm và kiểm tra chất lượng cầu đường bộ. Nội dung giáo trình cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện, từ các quy định chung về lấy mẫu cho đến những phương pháp thí nghiệm phức tạp nhằm xác định các chỉ tiêu cơ-lý quan trọng của cốt liệu lớn (đá). Việc nắm vững các quy trình này đảm bảo chất lượng vật liệu đầu vào, yếu tố quyết định trực tiếp đến độ bền, tuổi thọ và sự an toàn của các công trình giao thông. Tài liệu này được biên soạn dựa trên các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hiện hành, cụ thể là bộ tiêu chuẩn TCVN 7572:2006, đảm bảo tính pháp lý và khoa học. Mỗi bài học trong giáo trình đều được thiết kế để trang bị cho học viên kỹ năng thực hành chuẩn xác tại phòng thí nghiệm. Các chỉ tiêu như thành phần hạt, khối lượng riêng, độ hút nước, độ hao mòn Los Angelescường độ nén đều là những thông số cốt lõi. Chúng giúp các kỹ thuật viên đánh giá xem một loại đá có đủ tiêu chuẩn để sử dụng cho các lớp móng đường, bê tông nhựa hay bê tông xi măng hay không. Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong giáo trình thí nghiệm đá không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật mà còn là trách nhiệm đảm bảo chất lượng cho toàn bộ dự án xây dựng cầu đường bộ.

1.1. Vai trò của thí nghiệm đá trong kiểm tra chất lượng

Thí nghiệm đá đóng vai trò then chốt trong quy trình kiểm tra chất lượng cầu đường bộ. Vật liệu đá, hay còn gọi là cốt liệu lớn, là thành phần chính cấu tạo nên các lớp kết cấu áo đường và bê tông. Chất lượng của đá ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chịu tải, chống mài mòn và ổn định của công trình. Một kết quả thí nghiệm chính xác cung cấp cơ sở dữ liệu đáng tin cậy cho kỹ sư thiết kế và giám sát. Dựa vào đó, họ có thể đưa ra quyết định chấp thuận hay loại bỏ một lô vật liệu, điều chỉnh cấp phối hoặc thay đổi nguồn cung cấp. Nếu bỏ qua hoặc thực hiện sơ sài công tác này, các công trình có nguy cơ xuống cấp nhanh chóng, xuất hiện các hư hỏng như nứt, lún, ổ gà, gây mất an toàn giao thông và tốn kém chi phí sửa chữa. Do đó, việc đào tạo kỹ thuật viên thành thạo các phép thử theo giáo trình thí nghiệm đá là yêu cầu bắt buộc.

1.2. Tổng quan các tiêu chuẩn TCVN 7572 2006 được áp dụng

Bộ tiêu chuẩn TCVN 7572:2006 là kim chỉ nam cho mọi hoạt động thí nghiệm cốt liệu. Giáo trình này hệ thống hóa các phương pháp thử nghiệm dựa trên bộ tiêu chuẩn quốc gia này. Các tiêu chuẩn chính được đề cập bao gồm: TCVN 7572-1:2006 quy định về phương pháp lấy mẫu; TCVN 7572-2:2006 về xác định thành phần hạt; TCVN 7572-5:2006 về xác định khối lượng riêng, khối lượng thể tích và độ hút nước. Ngoài ra, các tiêu chuẩn khác như TCVN 7572-6:2006 (khối lượng thể tích xốp, độ hổng), TCVN 7572-8:2006 (hàm lượng bùn, sét, tạp chất hữu cơ) và các phương pháp xác định chỉ tiêu cơ học cũng được tích hợp. Việc viện dẫn và tuân thủ các TCVN này đảm bảo tính nhất quán và đồng bộ trong công tác kiểm định chất lượng trên toàn quốc, giúp kết quả thí nghiệm từ các phòng thí nghiệm khác nhau có thể so sánh và đối chứng được.

II. Những thách thức khi kiểm tra chất lượng đá cầu đường bộ

Công tác kiểm tra chất lượng cầu đường bộ đối với vật liệu đá tồn tại nhiều thách thức cố hữu. Thách thức lớn nhất là đảm bảo tính đại diện của mẫu thí nghiệm. Một lô đá hàng trăm tấn không đồng nhất về chất lượng, việc lấy một vài kg mẫu sao cho phản ánh đúng bản chất của cả lô đòi hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm. Tài liệu gốc nhấn mạnh: "Mẫu cốt liệu lớn (đá) được lấy theo lô sản phẩm, sao cho đảm bảo đặc tính tự nhiên của cốt liệu lớn và đại diện cho lô cốt liệu lớn cần thử". Sai sót trong khâu lấy mẫu thí nghiệm sẽ dẫn đến toàn bộ kết quả sau đó bị sai lệch, gây ra những quyết định kỹ thuật không chính xác. Một thách thức khác là sự ảnh hưởng của yếu tố con người và thiết bị. Thao tác của thí nghiệm viên, độ chính xác của cân kỹ thuật, bộ sàng tiêu chuẩn hay máy nén đều có thể tác động đến kết quả. Ví dụ, việc sàng bằng tay không đúng kỹ thuật có thể khiến thành phần hạt không được phân tách chính xác. Hơn nữa, việc diễn giải kết quả cũng cần chuyên môn cao. Các chỉ số như độ hổng hay hệ số hóa mềm không chỉ là những con số, chúng phản ánh cấu trúc và độ bền của vật liệu trong điều kiện làm việc thực tế, đòi hỏi người phân tích phải có kiến thức chuyên sâu để đưa ra nhận định đúng đắn. Việc chuẩn hóa quy trình thông qua giáo trình thí nghiệm đá giúp giảm thiểu các sai sót này.

2.1. Sai số trong quá trình lấy mẫu và rút gọn mẫu thí nghiệm

Quy trình lấy mẫu thí nghiệm và rút gọn mẫu là nguồn phát sinh sai số tiềm tàng lớn nhất. Theo TCVN 7572-1:2006, mẫu ban đầu phải được lấy từ nhiều điểm khác nhau trong kho hoặc trên băng chuyền. Nếu chỉ lấy mẫu ở một vị trí bề mặt, mẫu đó sẽ không đại diện cho toàn bộ lô vật liệu. Quá trình rút gọn mẫu bằng phương pháp chia tư hoặc dùng máng chia cũng đòi hỏi sự cẩn thận. Thao tác trộn không đều trước khi chia hoặc san phẳng mẫu không đúng cách sẽ làm cho các phần được chia không đồng nhất. Điều này dẫn đến mẫu trung bình cuối cùng dùng cho thí nghiệm có thể chứa tỷ lệ hạt lớn hoặc hạt nhỏ nhiều hơn thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phân tích thành phần hạt và các chỉ tiêu liên quan. Do đó, giáo trình luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đúng kỹ thuật ở bước này.

2.2. Ảnh hưởng của thiết bị và thao tác đến kết quả thử nghiệm

Độ chính xác của thiết bị là yếu tố không thể xem nhẹ. Một chiếc cân kỹ thuật không được hiệu chuẩn đúng định kỳ sẽ cho ra các giá trị khối lượng sai, làm sai lệch toàn bộ các tính toán về khối lượng riêng, độ hút nước, hay độ ẩm. Tương tự, mắt sàng của bộ sàng tiêu chuẩn bị mòn, cong vênh hoặc sai kích thước sẽ cho kết quả phân tích thành phần hạt không đáng tin cậy. Bên cạnh đó, thao tác của thí nghiệm viên cũng rất quan trọng. Ví dụ, khi xác định cường độ nén của đá gốc, tốc độ gia tải của máy nén phải được kiểm soát chặt chẽ. "Cho máy nén hoạt động với tốc độ gia tải từ 0,3N/mm² đến 0,5N/mm² trong 1 phút cho tới khi mẫu bị phá hủy". Nếu gia tải quá nhanh hoặc quá chậm, kết quả cường độ chịu nén của mẫu sẽ khác đi, dẫn đến đánh giá sai về khả năng chịu lực của đá.

III. Hướng dẫn thí nghiệm tính chất vật lý cốt lõi của đá dăm

Việc xác định các tính chất vật lý là bước cơ bản và quan trọng nhất trong giáo trình thí nghiệm đá. Các chỉ tiêu này cung cấp thông tin về cấu trúc, thành phần và khả năng tương tác với nước của cốt liệu lớn. Bài 3 của giáo trình tập trung vào việc xác định khối lượng riêng, khối lượng thể tíchđộ hút nước. Khối lượng riêng (ρa) phản ánh độ đặc chắc của vật liệu gốc, được định nghĩa là "khối lượng của một đơn vị thể tích đá dăm ở trạng thái khô hoàn toàn đặc (không có lỗ rỗng)". Ngược lại, khối lượng thể tích xốp (Bài 4) lại tính cả các lỗ rỗng giữa các hạt, cho biết mức độ rỗng của đá khi được đổ đống tự nhiên. Từ hai chỉ tiêu này, ta có thể tính được độ hổng (vh), một thông số quan trọng để tính toán lượng nhựa hoặc xi măng cần thiết trong cấp phối. Độ hút nước (w) cho thấy khả năng vật liệu hút và giữ nước trong các lỗ rỗng. Một loại đá có độ hút nước cao thường có độ bền không tốt khi tiếp xúc với môi trường ẩm ướt. Bên cạnh đó, việc xác định thành phần hạt (Bài 2) bằng phương pháp sàng là bắt buộc để kiểm tra xem cấp phối đá có phù hợp với đường cong cấp phối thiết kế hay không, đảm bảo độ chặt sau khi lèn ép.

3.1. Quy trình xác định khối lượng riêng và độ hút nước TCVN

Quy trình xác định khối lượng riêngđộ hút nước được thực hiện đồng thời theo TCVN 7572-5:2006. Mẫu đá được ngâm trong nước 48 giờ để đạt trạng thái bão hòa. Sau đó, tiến hành cân mẫu ở 3 trạng thái: khối lượng mẫu bão hòa trong không khí (m2), khối lượng mẫu bão hòa trong nước (m3) bằng cân thủy tĩnh, và khối lượng mẫu khô hoàn toàn sau khi sấy (m1). Khối lượng riêng được tính dựa trên khối lượng mẫu khô và thể tích nước mà nó chiếm chỗ. Trong khi đó, độ hút nước được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa lượng nước mà mẫu hút vào so với khối lượng khô của nó, theo công thức w = [(m2 - m1) / m1] x 100. Kết quả của hai chỉ tiêu này giúp đánh giá độ đặc chắc và khả năng bị ảnh hưởng bởi nước của đá.

3.2. Phân tích thành phần hạt và hàm lượng hạt thoi dẹt

Phân tích thành phần hạt là một trong những thí nghiệm cơ bản nhất. Quy trình theo TCVN 7572-2:2006 yêu cầu sàng một lượng mẫu khô qua một bộ sàng tiêu chuẩn có kích thước mắt sàng giảm dần. Khối lượng đá còn lại trên mỗi sàng được cân và tính toán ra phần trăm lượng sót riêng biệt và lượng sót tích lũy. Kết quả này dùng để vẽ đường cong cấp phối, so sánh với yêu cầu kỹ thuật của dự án. Bên cạnh đó, hàm lượng hạt thoi dẹt (Bài 11) cũng là một chỉ tiêu quan trọng. Các hạt thoi dẹt là những hạt có hình dạng không thuận lợi, dễ bị gãy vỡ dưới tác dụng của tải trọng và khó lèn chặt. Hàm lượng hạt thoi dẹt cao sẽ làm giảm cường độ và độ ổn định của lớp kết cấu. Việc kiểm soát chỉ tiêu này đảm bảo vật liệu có hình dạng tốt, tạo ra một bộ khung chịu lực ổn định.

3.3. Phương pháp rửa xác định hàm lượng bụi bùn sét

Hàm lượng chung bụi, bùn, sét là chỉ tiêu đánh giá độ sạch của cốt liệu lớn. Theo TCVN 7572-8:2006, phương pháp xác định phổ biến nhất là phương pháp rửa. Mẫu đá khô đã biết khối lượng (m) được ngâm trong nước để các tạp chất bẩn mềm ra. Sau đó, mẫu được khuấy đều và xả nước bẩn đi nhiều lần cho đến khi nước xả ra trong. Toàn bộ mẫu sau khi rửa sạch được sấy khô đến khối lượng không đổi (m1). Hàm lượng bụi, bùn, sét (Sc) được tính bằng phần trăm tổn thất khối lượng: Sc = [(m - m1) / m] x 100. Tạp chất này có hại vì chúng làm giảm lực dính bám giữa đá và chất kết dính (nhựa hoặc xi măng), từ đó làm giảm cường độ chung của hỗn hợp.

IV. Các phương pháp xác định chỉ tiêu cơ học của đá xây dựng

Các chỉ tiêu cơ học phản ánh khả năng chịu lực và chống lại các tác động phá hoại của vật liệu đá, là yếu tố sống còn trong kiểm tra chất lượng cầu đường bộ. Giáo trình thí nghiệm đá dành một phần quan trọng để hướng dẫn các phép thử này. Cường độ nén của đá gốc (Bài 8) là chỉ tiêu biểu thị khả năng chống lại lực nén tĩnh. Thí nghiệm được thực hiện trên các mẫu đá được gia công thành hình trụ hoặc lập phương, nén trên máy nén thủy lực cho đến khi bị phá hủy. Từ đó, hệ số hóa mềm cũng được xác định, cho biết mức độ suy giảm cường độ của đá khi bị bão hòa nước. Một chỉ tiêu quan trọng khác là độ nén dập trong xi lanh (Bài 9), mô phỏng sự vỡ vụn của đá dưới tác dụng của tải trọng lèn ép. Chỉ tiêu này đặc biệt có ý nghĩa đối với đá làm lớp móng đường. Cuối cùng, độ hao mòn Los Angeles (Bài 10) là chỉ tiêu đánh giá khả năng chống mài mòn và va đập tổng hợp của đá. Thí nghiệm này cho đá và các viên bi thép vào một thùng quay, mô phỏng sự va đập, cọ xát giữa các hạt đá với nhau và với bánh xe khi khai thác. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để lựa chọn đá cho lớp mặt bê tông nhựa.

4.1. Thí nghiệm cường độ nén và xác định hệ số hóa mềm

Thí nghiệm xác định cường độ nén được thực hiện trên 10 mẫu đá gốc, chia làm 2 tổ. Tổ thứ nhất được sấy khô để xác định cường độ nén ở trạng thái khô (R'kn). Tổ thứ hai được ngâm bão hòa nước trong 48 giờ để xác định cường độ nén ở trạng thái bão hòa (Rbh). Mỗi mẫu được đặt vào máy nén và gia tải với tốc độ không đổi cho đến khi vỡ. Cường độ nén được tính bằng lực phá hoại chia cho diện tích chịu nén. Hệ số hóa mềm (Km) được tính bằng tỷ số Km = Rbh / R'kn. Hệ số này cho thấy mức độ giảm cường độ của đá khi bị ngâm nước, một chỉ số quan trọng để đánh giá độ bền của vật liệu trong điều kiện thời tiết bất lợi.

4.2. Cách xác định độ nén dập của đá dăm trong xi lanh

Thí nghiệm độ nén dập trong xi lanh theo TCVN 7572-12:2006 (trong tài liệu ghi Bài 9) dùng để đánh giá độ bền của cốt liệu lớn dưới tác dụng nén tĩnh. Một lượng mẫu đá dăm đã được chuẩn bị (sấy khô hoặc bão hòa nước) được cho vào một xi lanh thép. Sau đó, một pít-tông được đặt lên trên và toàn bộ cụm được đưa vào máy nén. Mẫu được nén với một lực tiêu chuẩn (ví dụ 200KN cho xi lanh 150mm). Sau khi nén, mẫu được lấy ra và sàng qua một cỡ sàng quy định. Phần trăm khối lượng vật liệu lọt qua sàng chính là giá trị độ nén dập. Chỉ số này càng thấp, đá càng có khả năng chống vỡ vụn tốt hơn.

4.3. Quy trình thí nghiệm độ hao mòn Los Angeles LA

Thí nghiệm độ hao mòn Los Angeles (LA) là một trong những phép thử cơ học quan trọng nhất. Theo quy trình trong Bài 10, một mẫu đá khô với cấp phối và khối lượng xác định (thường là 5000g) cùng với một số lượng bi thép tiêu chuẩn được cho vào máy Los Angeles. Máy sẽ quay 500 vòng với tốc độ 30-33 vòng/phút. Quá trình quay này tạo ra sự va đập và mài mòn mạnh mẽ. Sau khi quay đủ số vòng, mẫu được lấy ra và sàng qua sàng 1,7mm. Phần vật liệu lọt qua sàng được coi là tổn thất. Độ hao mòn Los Angeles (Hm) được tính bằng phần trăm khối lượng tổn thất so với khối lượng mẫu ban đầu. Chỉ số LA càng nhỏ, đá càng có khả năng chống mài mòn tốt.

V. Ứng dụng kết quả thí nghiệm và tiêu chuẩn báo cáo TCVN

Việc ứng dụng kết quả từ giáo trình thí nghiệm đá là mục tiêu cuối cùng của toàn bộ quy trình kiểm định. Các con số thu được không chỉ để lưu trữ mà phải được sử dụng để ra quyết định kỹ thuật. Ví dụ, kết quả phân tích thành phần hạt sẽ quyết định xem lô đá có được dùng cho cấp phối đá dăm loại I, loại II hay cho bê tông nhựa hạt trung, hạt mịn. Độ hao mòn Los Angeles sẽ là tiêu chí chính để lựa chọn đá cho lớp mặt đường, nơi chịu tác động mài mòn lớn nhất từ bánh xe. Cường độ nénhệ số hóa mềm giúp kỹ sư đánh giá sự phù hợp của đá gốc khi sử dụng trong các kết cấu bê tông chịu lực quan trọng. Mỗi phép thử đều có một vai trò riêng trong việc đảm bảo chất lượng công trình. Để các kết quả này có giá trị, việc lập báo cáo thí nghiệm phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định. Mỗi biên bản, theo yêu cầu của các TCVN, phải ghi đầy đủ thông tin về: tên và địa chỉ đơn vị thí nghiệm, nơi lấy mẫu, loại cốt liệu, ngày lấy mẫu, ngày thí nghiệm, kết quả cụ thể, tên người thí nghiệm và viện dẫn tiêu chuẩn áp dụng. Sự minh bạch và đầy đủ này đảm bảo tính pháp lý, khả năng truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm của đơn vị kiểm định, góp phần nâng cao chất lượng chung của ngành xây dựng cầu đường bộ.

5.1. Diễn giải kết quả và áp dụng vào thực tế công trường

Việc diễn giải kết quả thí nghiệm đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết từ giáo trình thí nghiệm đá và kinh nghiệm thực tế. Một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm phải hiểu rằng chỉ số độ nén dập cao có nghĩa là đá giòn và dễ vỡ, không phù hợp cho lớp móng chịu tải nặng. Tương tự, độ hút nước lớn cảnh báo về nguy cơ đá bị phá hủy bởi chu kỳ đóng băng-tan băng ở những vùng khí hậu lạnh. Các kết quả này sẽ được so sánh với các yêu cầu kỹ thuật của dự án (chỉ dẫn kỹ thuật). Nếu các chỉ tiêu của vật liệu không đạt, kỹ sư công trường sẽ phải đưa ra các quyết định như: yêu cầu nhà cung cấp đổi lô vật liệu khác, tìm kiếm nguồn mỏ mới, hoặc trong một số trường hợp, điều chỉnh thiết kế cấp phối để phù hợp với đặc tính của vật liệu sẵn có, miễn là vẫn đảm bảo yêu cầu chịu lực và độ bền.

5.2. Yêu cầu bắt buộc đối với một biên bản lấy mẫu thí nghiệm

Một biên bản thí nghiệm hợp lệ là một tài liệu pháp lý. Theo quy định trong từng bài của giáo trình, nó phải chứa đựng các thông tin cốt lõi, không thể thiếu. Biên bản lấy mẫu cần ghi rõ: "Tên và địa chỉ của tổ chức (đơn vị) lấy mẫu, nơi lấy mẫu, loại cốt liệu, khối lượng của mẫu, các điều kiện lưu ý khi lấy mẫu, người lấy mẫu và viện dẫn tiêu chuẩn". Tương tự, báo cáo kết quả thí nghiệm cho từng chỉ tiêu cũng phải có đầy đủ thông tin nhận dạng mẫu, phương pháp thử đã áp dụng (ví dụ: TCVN 7572-10:2006 cho độ hao mòn LA), kết quả tính toán chi tiết, và chữ ký của người thực hiện cũng như người phụ trách phòng thí nghiệm. Sự chặt chẽ này đảm bảo mọi kết quả đều có thể được kiểm tra và xác thực lại khi cần thiết, tạo nên sự tin cậy trong toàn bộ hệ thống kiểm tra chất lượng cầu đường bộ.

16/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIAOTHÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG CA0 ĐẲNG 6IA0 THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG Ï GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN THI NGHIEM DA Hà Nội, 2017 BO GIAO THONG VAN TAI TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I GIAO TRINH - Mô đun: Thí nghiệm đá NGHE: THI NGHIEM VA KIEM TRA CHẤT LƯỢNG CAU DUONG BO TRINH DO: TRUNG CAP Hà Nội - 2017 BAI 1: LAY MAU THi NGHIEM (TCVN 7572 — 1: 2006) 1. Quy định chung Mẫu cốt liệu lớn (đá) được lấy theo lô sản phẩm, sao cho đảm bảo đặc tính tự nhiên của cốt liệu lớn và đại điện cho lô cốt liệu lớn cần thử. Lô cốt liệu lớn là khối lượng cốt liệu do một cơ sở sản xuất trong một ngày và được giao nhận cùng một lúc. Nếu cốt liệu được sản xuất theo từng cỡ hạt riêng biệt thì lô cốt liệu là khối lượng cốt liệu của cùng một cỡ hạt được sản xuất trong một ngày. Khối lượng một lô cốt liệu lớn trong kho không lớn hơn 300 tắn hoặc khoảng 200 mét khối. Mẫu được sấy khô đến khối lượng không cốt liệu lớn được sấy ở nhiệt độ từ 105 độ C đến 110 độ C cho tới khi chênh lệch giữa hai lần cân không vượt quá 0,1 % khối lượng. Thời gian giữa hai lần cân liên tiếp không ít hơn 30 phút. Mẫu thử, thiết bị và vật liệu dung cho quá trình thử, phải được bảo quản đạt nhiệt độ phòng thí nghiệm trước khi sử dụng. Dụng cụ và thiết bị: - _ Cân kỹ thuật chính xác đến 0,Igam. ~_ Dụng cụ xúc mẫu hoặc lấy mẫu trên băng chuyền bằng gỗ hoặc bằng kim loại. ~ _ Thiết bị chia tư mẫu: gồm hộp chứa mẫu và máng chia mẫu mô tả như hình duới đây. Chiều rộng khe chảy của máng chia mẫu phải lớn hơn 1,5 lần kích thước hạt cốt liệu lớn nhất. Léy mẫu thứ * Lẫy mẫu ban đầu Trên các băng chuyền, mẫu ban đầu được lấy định kỳ từ 0,5 giờ đến 1giờ và lấy trên suốt chiều ngang băng chuyển. Nếu cốt liệu có tình đồng nhất thì thời gian giữa hai lần lấy có thể kéo dài hơn. Trong kho chứa, mẫu ban đầu của cốt liệu được lấy từ nhiều điểm liệu lớn từ đỉnh xuống tới chân, sao cho mẫu lấy ra có tính chất đại điện cho cả lô cốt Nếu cốt liệu lớn ở trong các bể chứa thì phải lấy cả mặt trên và mặt dưới của bề chứa. Mỗi lô cốt liệu lớn lấy từ 10 - 15 mẫu ban đầu. Chú thích: «_ khi chiều rộng băng chuyển lớn hơn hay bằng 1000mm thì lấy mẫu ban đầu bằng cách chặn ngang một phần băng tải bằng thanh gỗ cho vật liệu rơi vào khay chứa «_ Nếu kho chứa là các hộc chứa thị mẫu ban đầu được lấy ở lớp trên mặt và lớp đưới đáy hộc chứa, lớp dưới đáy hộc lấy bằng cách mở. cửa đáy hộc chứa cốt liệu để cho cốt liệu tự rơi ra. * Khối lượng mẫu ban đầu 'Tuỷ theo độ lớn của hạt cốt liệu lớn khối lượng ban đầu được quy định trong bảng 1 BANG 1: KHOI LUQNG MAU BAN DAU CUA COT LIEU LON (10) Kích thước lớn nhất của hạt | Khối lượng mẫu ban đầu (kg) cốt liệu (mm) 10 25 20 5,0 40 100 70 15,0 1.3 Rút gọn mau Gộp các mẫu đã lấy theo 2.1 và rút gọn mẫu theo quy tắc rút gọn mẫu như sau: Các mẫu ban đầu sau khi lấy theo 2.1 được gộp lại, trộn kỹ và rút gọn theo phương pháp chia tư hoặc phương pháp chia đôi bằng thùng chứa có máng (Hình 1) để có mẫu trung bình. Rút gọn mẫu theo phương pháp chia tu: Đổ cốt liệu lớn trên nền phẳng khô và sạch, không thấm nước. San phẳng mặt mẫu và kẻ 2 đường thằng vuông góc để chia mẫu thành 4 phần đều nhau. Lấy 2 phần bắt kỳ đối đỉnh nhau, gộp lại làm 1. sau đó lại trộn kỹ va rút gọn phần mẫu gộp như trên cho tới khi đạt được khối lượng cần thiết. Rút gọn mẫu bằng thùng chứa có 2 máng : Đỗ mẫu cốt liệu lớn vào thùng chứa, san phẳng rồi mở máng cho cốt liệu lớn chảy theo 2 máng chia ra 2 phía vào 2 khay chứa ở ngoài. Dùng một nửa (khối lượng cốt liệu lớn của một máng) để tiếp tục đổ vào thùng chứa rút gọn như thế cho tới khi đạt được khối lượng cần thiết. Từ mẫu trung bình đã rút gọn, lấy ra mẫu thí nghiệm cho từng chỉ tiêu với các khối lượng quy định trong bảng 1. Chú thích: Có thể xác định nhiều chỉ tiêu từ 1 mẫu thử nếu trong quá trình thử tính chất của cốt liệu lớn không bị thay đi * Mẫu trung bình Tuỳ theo cỡ hạt, khối lượng mẫu trung bìnhcủa cốt liệu lớn dùng để thử mỗi loại chỉ tiêu được lấy từ mẫu đã rút gọn theo 2.3 không được nhỏ. hơn 4 lần khối lượng của mẫu được nêu trong bảng 2 : BANG 2: KHOI LUQNG NHO NHAT CUA MAU THỨ bE XAC DING TINH CHAT CUA COT LIEU LON (DA) 'Khối lượng nhỏ nhất của mẫu cốt liệu lớn cần thiết để thử tuỳ theo cỡ hạt (kg) Tên phép thử | Từ5mm[ Từ Từ Từ Trên - 10mm | 10mm- | 20mm- | 40mm- | 70mm 20mm =) 40mm | 70mm 1. Xác định khdi lượng riêng khối Q„s 1,0 25 25 25 lượng thể tíh và độ hút nước của đá 2. Xác định khối lượng thể tích XỐP œss l1ss 1300 |600 |600 và độ hồng của đá 3. Xác định thành | 5,0 10,0 20,0 30,0 50,0 phần cỡ hạt 4.0 15,0 | 15,0 lượng chung bụi, bùn, set Khối lượng nhỏ nhất của mẫu cốt liệu lớn cần thiết đễ thử tuỳ theo cỡ hạt (kg) Tên phép hứ [Từ5mm| Từ Từ Từ | Trên - 10mm | 10mm- | 20mm- | 40mm- | 70mm 20mm | 40mm | 70mm 5.0 lượng hat thoi det 6. Xác định độ nén đập trong xilanh ° đường tính tong lọ 0.8 + + + của xilanh 75mm - đường kính trong 60 60 60 # + của xilanh 150mm 8. Xác định độ hao + + mòn khi va 4/199 =| 100 =| 200 trong mấy Los Angeles CHÚ THÍCH Đá dăm thuộc cỡ hạt dẫu + trước khi đem thứ phải đập vỡ để đạt cỡ hạt nhỏ hơn kích thước của cỡ hạt liền kẻ trong bảng 2, sau đó lấy khối lượng mẫu bằng khối lượng mẫu của cỡ hạt mới nhận được. Đề tiến hành một số phép thử đả dăm hoặc sói, khối lượng mẫu cần thiết lấy bằng tổng khối lượng các mẫu cho từng phép thử: 2. Biên bản lấy mẫu Biên bản lấy mẫu phải có đẩy đủ các nội dung sau: ~ _ Tên và địa chỉ của tổ chức (đơn vị) lẫy mẫu. ~_ Nơi lấy mẫu hoặc nơi gửi mẫu đến thí nghiệm. ~_ Loại cốt liệu. ~ _ Khối lượng của mẫu. ~_ Các điều kiện hoặc các điểm lưu ý khi lấy mẫu. ~ _ Người lấy mẫu. - _ Viện dẫn tiêu chuẩn này. ÀI 2: XÁC ĐỊNH THÀNH PHÀN HẠT (TCVN 7572-2: 2006) 1. Khái ni ệm Đá dùng trong xây dựng là các loại đá được nghiễn vỡ từ đá nguyên khối thành các cỡ hạt có kích thước khác nhau. Đá dùng cho bêtông nhựa, bêtông ximăng hoặc đá cấp phối dùng làm lớp móng đường thường bao gồm nhiễu kích cỡ lớn nhỏ khác nhau, có như vậy sau khi đầm lèn mới đạt được độ chặt cao, độ hồng thấp. Tuỳ thuộc vào đối tượng sử dụng vật liệu có những yêu cầu khác nhau vẻ thành phần hạt. Thành phần hạt là chỉ tiêu kỹ thuật đánh giá % các hạt có kích thước khác nhau trong một tập hợp vật liệu dạng rời. Tiêu chuẩn này quy định phương pháp sàng để xác định thành phần hạt của cốt liệu lớn (đá dăm). Thiết bị thử - _ Cân kỹ thuật có độ chính xác 0,lgam ~ _ Bộ sảng tiêu chuẩn có kích thước mắt sàng: 2,5mm; 5mm; 10mm; 20mm; 40mm; 70mm; 100mm. Lẫy mẫu và chuẩn bị mẫu thử Lấy mẫu cốt liệu lớn theo Bài 1. Trước khi đem thử mẫu được sấy đến khối lượng không đổi và đẻ nguội đến nhiệt độ phòng thí nghiệm. Tiến hành thứ a. Cân một lượng mẫu thử đã được chuẩn bị ở phần 3 với khối lượng. phù hợp kích thước lớn nhất của hạt cốt liệu lớn được nêu trong bang 1 BANG 1: KHOI LUQNG MAU TUY THUQC VAO KiCH THƯỚC LON NHAT CUA HAT COT LIEU LON Kích thước danh nghĩa lớn nhất của Khối lượng mẫu không nhỏ hơn hạt cốt liệu (Dmax), mm Kg 10 5 20 5 40 10 70 30 Lớn hơn 70 50 b. Xếp chồng từ trên xuống dưới bộ sàng tiêu chuẩn theo thứ tự kích thước mắt sàng từ lớn đến nhỏ như sau: 100mm; 70mm; 40mm; 20mm; 10mm; Smm va day sing. Đỗ dần dần cốt liệu đã cân ( trong bảng 1) vao sang trén cing roi tiến hành sảng. Chú ý chiều dày lớp cốt liệu đổ vào mỗi sảng không được vượt quá kích thước hạt lớn nhất trong sàng đó. 'Có thể dùng máy lắc sàng hoặc sàng bằng tay. Khi dùng máy lắc sàng thì thời gian sảng theo quy định của từng. loại máy Khi sàng bằng tay thì thời điểm kết thúc sàng cho mỗi cỡ sảng là: Khi sàng liên tục trong vòng 1 phút mà lượng lọt qua mỗi sàng không lớn hơn 0,1% khối lượng mẫu thử ở sing đó. Cân lượng sót trên từng sàng chính xác đến 0,1g. Tinh két qua © Luong sot riéng biệt trên từng sàng ký hiệu là (ai) tính bằng % khối lượng lấy chính xác đến 0,1% theo công thức : Trong đó: ai : là lượng sót riêng biệt trên từng sảng có kích thước mắt sàng. tính bằng % mi: là khối lượng phần còn lại trên sàng có kích thước mắt sàng. thứi,tính bang gam. m: là khối lượng mẫu thử lấy tương ứng theo bảng 1 * Lượng sót tích luỹ trên kích thước mắt sàng thứ i, ký hiệu là (Ai): Là tổng lượng sót riêng trên sàng có kích thước mắt sảng lớn hơn nó và lượng sót riêng trên bản thân đó. Lượng sót tích luỹ (Ai) tính bằng % khối lượng, chính xác tới 0,19% khối lượng, theo công thức: i Ai=ai+. at ano Trong đó: ai: à lượng sót riêng biệt trên sảng có kích thước mắt sàng thứ ¡, tính bằng % khối lượng. 70: là lượng sót riêng trên sàng có kích thước 70mm, tính bằng % khối lượng, 6. Báo cáo thí nghiệm Báo cáo thí nghiệm cần có các thong tin sau: Loại và nguồn gốc cốt liệu lớn (đá). 'Tên kho, bãi hoặc công trường. Vị trí lấy mẫu. Ngày lấy mẫu. "Ngày làm thí nghiệm. Bộ sàng dùng để thí nghiệm. Lượng sót trên từng sàng, tinh theo (%) khối lượng. Lượng sót tích luỹ trên từng sàng, tính theo (%) khối lượng. Cỡ hạt lớn nhất, cỡ hạt nhỏ nhất . Tên người thí nghiệm . Đơn vị thí nghiệm. Viện dẫn tiêu chuẩn nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ