chương I: Những quy định chung, mục II chương XVI: Xử phạt vi phạm pháp luật lao động và chương XVII: Điều khoản thi hành. Phần riêng Bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh từng mặt, từng lĩnh vực cụ thể. Các quy phạm pháp luật này hợp thành các chế định của Luật Lao động. Trong Bộ luật Lao động, các chế định này bao gồm: - Chế định hợp đồng lao động (Chương IV); — Chế định tiền lương (Chương VI); ~— Chế định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (Chương VID; ~ Chế định kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất (Chương VIIID; ~ Chế định an toàn lao động, vệ sinh lao động (Chương IX); — Chế định quy định riêng đối với lao động đặc thù; lao động chưa thành niên, lao động nữ và một số lao động khác (Chương X); — Chế định việc làm (Chương II) và chế định học nghề (Chương III); ~ Chế định bảo hiểm xã hội (Chương XI); ~ Chế định thôa ước lao động tập thể (Chương V); — Chế định công đoàn (Chương XIID; — Chế định giải quyết tranh chấp lao động (Chương XIV); ~ Chế định quản lý nhà nước về lao động (Chương XV) và chế định thanh tra nhà nước về lao động (Chương XVI).
CÁC QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÌNH THÀNH DO SY DIEU CHINH CUA LUAT LAO DONG Sự điều chỉnh của Luật Lao động đối với quan hệ lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động đã làm hình thành quan hệ pháp luật lao động và các quan hệ pháp luật liên quan trực tiếp với quan hệ lao động. Quan hệ pháp luật lao động %. Khái niệm, đặc điển của quan hệ pháp luật lao động Quan hệ lao động giữa người lao động làm công và người sử dụng lao động được pháp luật lao động điều chỉnh trở thành quan hệ pháp luật lao động. Do quan hệ lao động là tổ hợp của nhiều loại quan hệ xã hội nên quan hệ pháp luật lao động cũng là một tổ hợp của nhiều quan hệ pháp luật tương ứng đó.
Trong các quan hệ pháp luật lao động thì quan hệ pháp luật về tuyển dụng lao động là quan hệ pháp luật cơ bản, là cơ sở làm phát sinh các quan hệ pháp luật lao động khác. Quan hệ pháp luật lao động có các đặc điểm sau đây: — Một là, được thiết lập chủ yếu trên cơ sở hợp đồng lao động đã giao kết; — Hai là, trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động phải chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động; ~ Ba là, quá trình phát sinh, thay đối, chấm dứt quan hệ pháp luật thường có sự tham gia của tổ chức công đoàn. Những đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động giúp phân biệt quan hệ pháp luật lao động với quan hệ pháp luật về khoán việc, về dịch vụ trong Luật Dân sự và với quan hệ pháp luật hành chính trong Luật Hành chính. Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động Đây là các chủ thể của quan hệ pháp luật về tuyển dụng lao động, bao gồm người lao động và người sử dụng lao động.
Người lao động là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động phải là người có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Theo quy định của Bộ luật Lao động thì người lao động được coi là có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động là người “# nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” (Điều 6). Người sử dụng lao động có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Người sử dụng lao động là tổ chức thì phải là pháp nhân; nếu không phải là pháp nhân thì phải có đủ điều kiện để sử dụng lao động và trả công cho người lao động.
Người sử dụng lao động là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động Nội dung của quan hệ pháp luật lao động là quyển và nghĩa vụ của các chủ thể. Do quan hệ pháp luật lao động là loại quan hệ song vụ cho nên quyền của chủ thể bên này là nghĩa vụ của chủ thể bên kia và ngược lại. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được quy định trong Bộ luật Lao động (Điều 7, 8).
Những căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm đứt quan hệ lao động Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động là các sự kiện pháp lý. 145 Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động là việc các chủ thể tiến hành giao kết hợp đồng lao động. Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện làm thay đổi chủ thể hoặc làm thay đổi nội dung của quan hệ pháp luật lao động. Các sự kiện này có thể xảy ra do ý chí thỏa thuận của hai bên, do ý chí đơn phương của một bên hoặc do ý chí của người thứ ba”.
Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động là những sự kiện dẫn đến việc làm chấm dứt quyên và nghĩa vụ của chủ thể”. Các quan hệ pháp luật liên quan trực tiếp với quan hệ lao động Đây là các quan hệ pháp luật hình thành do sự điều chỉnh của pháp luật lao động đối với các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động, tương ứng với các quan hệ xã hội đã trình bày trong mục 1.2 của phần này. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 1. HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng lao động Trong nên kinh tế thị trường, người lao động có quyền làm việc với bất cứ người sử dụng lao động nào, tại bất cứ nơi nào mà pháp luật không cấm. Với tư cách là người sử dụng lao động, các chủ doanh nghiệp có quyền tuyển dụng lao động phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh của mình. Đặc điểm kinh tế — xã hội đó đặt ra yêu cầu phải có hình thức pháp lý về tuyển dụng lao động đân chủ, bình đẳng, dựa trên sự thoả thuận của hai bên, không thể áp dụng một cơ chế hành chính, áp đặt như trong điều kiện của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Hình thức pháp lý đó là hợp đồng lao động.
“Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyên và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” (Điều 26 Bộ luật Lao động). Định nghĩa trên cho thấy hợp đồng lao động có các dấu hiệu sau đây: — Sự thoả thuận tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động (doanh nghiệp); — Nội dung của sự thoả thuận được xác định là việc làm có trả công, điều kiện lao động và những nội dung khác thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên. Là một loại hợp đồng trong các quan hệ pháp luật dân sự — kinh tế, hợp đồng lao động cũng mang những đặc điểm chung của hợp đồng như: tự nguyện, bình đẳng, không trái pháp luật, cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý. Mặt khác, hợp 3 Xem phần 2.
146 đồng lao động có những đặc điểm riêng, phân biệt với các loại hợp đồng có yếu tố sử dụng lao động gần gũi với nó. Thứ nhất, hợp đồng lao động làm phát sinh một loại quan hệ lao động theo đó, người lao động đảm nhiệm một công việc theo một nghề chuyên môn hoặc một chức trách nhất định, không phải để làm một công việc cụ thể, nhất thời. Thứ hai, hợp đồng lao động tạo ra sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao động và người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của người lao động; có quyền kiểm tra, giám sát người lao động về địa điểm, thời gian làm việc, định mức lao dong.
Thứ ba, hợp đông lao động phải do chính người giao kết hợp đồng thực hiện. Người lao động không được chuyển giao việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cho người khác nếu không được người sử dụng lao động chấp thuận. Giao kết hợp đồng lao động Giao kết hợp đồng lao động là việc các bên bày tỏ ý chí của mình dựa trên những nguyên tắc và phương thức nhất định theo quy định của pháp luật nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Nguyên lắc giao kết hợp đồng lao động Theo tính thần của các quy định trong Bộ luật Lao động, việc giao kết hợp đồng lao động phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau: Một là, nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.
thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải được sửa đổi, bổ sung” (Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Lao động). Hai là, nhà nước khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của pháp luật lao động. Nguyên tắc này đồi hỏi trước hết hợp đồng lao động phải bảo đảm cho người lao động những quyền lợi ngang với quyền lợi được quy định trong pháp luật lao động. Trong trường hợp hai bên có những thoả thuận mà theo đó, người lao động được hưởng quyền lợi cao hơn hoặc phải thực hiện nghĩa vụ thấp hơn so với những quy định về quyền và nghĩa vụ được quy định trong pháp luật thì được khuyến khích.
Ba là, nguyên tắc tôn trọng pháp luật và những điều đã thoả thuận trong thoả ước lao động tập thể. Nguyên tắc này đồi hỏi việc giao kết hợp đồng lao động không được trái với các quy định của pháp luật lao động cũng như không được có những thoả thuận mà theo đó, quyền lợi của người lao động bị thấp hơn so với những thoả thuận đã đạt được trong thoả ước lao động tập thể. Từ nguyên tắc này, pháp luật quy định “Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn mức quy định trong pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể. thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó ghải được sửa đổi, bổ sung” (Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Lao động).
Chủ thể giao kết hợp đồng lao động Chủ thể giao kết hợp đồng lao động là người lao động và người sử dụng lao động. Người lao động phải đủ 15 tuổi trở lên và có khả năng lao động.