CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Mã chương: MH34.01 Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh trong hệ thống quản lý doanh nghiệp - Nhận biết được đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh - Vận dụng được 4 phương pháp phân tích chủ yếu nhất của phân tích hoạt động kinh doanh vào phân tích hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp - Phân loại được các hình thức phân tích hoạt động kinh doanh để vận dụng vào tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp - Trung thực, nhanh nhẹn nắm bắt hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung chính: 1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm - Phân tích, theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó.
Ví dụ: Trong lĩnh vực tự nhiên, sự chia nhỏ này được tiến hành với các phương tiện cụ thể như: Phân tích các loại sinh vật bằng kính hiển vi, phân tích các chất hoá học bằng các phản ứng…Trái lại. trong lĩnh vực kinh tế xã hội, các hiện tượng cần phân tích chỉ tồn tại bằng các khái niệm trừu tượng, do đó việc phân tích phải được tiến hành bằng những phương pháp trừu tượng. - Phân tích hoạt động kinh doanh (Operating activities analysis) là quá trình nghiên cứu, để đáng giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở DN, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở DN. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình kinh doanh và kết quả kinh doanh (tức sự việc xảy ra ở quá khứ).
Quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh không phải là các số liệu chung chung mà phải được lượng hoá cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế và phân tích cần hướng đến việc thực hiện các chỉ tiêu đó để đánh giá. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. - Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà DN nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong DN của mình. - Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh - Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở DN - Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro Phân tích kinh doanh, ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong DN về tài chính, lao động, vật tư…DN còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh…trên cơ sở phân tích trên, DN dự kiến các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra.
- Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị ở bên trong DN mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với DN, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay…với DN nữa hay không. Nhiện vụ của phân tích hoạt động kinh doanh - Đánh giá mức độ đạt được về kết quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DN và những nguyên nhân tác động tới chúng. - Phát hiện ra những tiềm năng của DN chưa được khai thác, bao gồm tiềm năng về nguồn lực (vốn, đất đai, lao động…), tiềm năng về thị trường và các điều kiện khác. - Trên cơ sở phân tích và đánh giá phải đề ra được các giải pháp, chiến lược kinh doanh và lựa chọn phương án tối ưu nhằm khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có và khắc phục những nhược điểm, thiếu sót để đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh Nội dung của Phân tích hoạt động kinh doanh tập trung vào những vấn đề 10 - Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của DN hay của từng đơn vị, từng bộ phận. - Phân tích các yếu tố nguồn lực và các điều kiện liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh - Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của DN - Phân tích hiệu quả kinh doanh của DN, của đơn vị, của từng bộ phận và hiệu quả của các yếu tố nguồn lực sử dụng vào sản xuất. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh Nguyên tắc của phân tích hoạt động kinh doanh - Phải lấy số kế hoạch (hoặc số thực hiện kỳ trước) làm căn cứ tiêu chuẩn, phải dựa vào các chỉ tiêu bình quân nội ngành (nếu có), hoặc là các tài liệu, số liệu hoạch toán thống nhất theo chế độ nhà nước đã ban hành. - Khi phân tích phải bắt đầu từ việc bao quát đánh giá chung, sau đó mới đi sâu cụ thể vào phân tích từng mặt, từng nội dung theo từng nội dung và địa điểm cụ thể.
- Khi phân tích phải phân loại các nhân tố một cách có căn cứ khoa học, để tìm ra nhân tố nào ảnh hưởng chủ yếu, thứ yếu, nhân tố nào mang tính tích cực hoặc tiêu cực. - Khi phân tích phải xem xét mối quan hệ ràng buộc giữa chúng với nhau, nhất là mối quan hệ 3 mặt: tổ chức- kinh tế- kỹ thuật. Phương pháp so sánh Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn để so sánh: Trước hết chọn chỉ tiêu của 1 kỳ làm căn cứ để so sánh, được gọi là kỳ gốc. Tủy theo mục tiêu nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp.
Nếu: + Kỳ gốc là năm trước: Muốn thấy được xu hướng phát triển của đối tượng phân tích. + Kỳ gốc là năm kế hoạch (hay là định mức): Muốn thấy được việc chấp hành các định mức đã đề ra có đúng theo dự kiến không. + Kỳ gốc là chỉ tiêu trung bình của ngành (hay khu vực hoặc quốc tế): muốn thấy được vị trí của DN và khả năng đáp ứng thị trường của DN. + Kỳ gốc là năm thực hiện: Là chỉ tiêu thực hiện trong kỳ hạch toán hay kỳ báo cáo.
Bước 2: Điều kiện so sánh được 11 Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được đem so sánh phải đảm bảo tính chất so sánh được về không gian và thời gian: - Về thời gian: Các chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán như nhau (Cụ thể như cùng tháng, quý, năm…) và phải đồng nhất trên cả 3 mặt: + Cùng phản ánh nội dung kinh tế + Cùng một phương pháp tính toán + Cùng một đơn vị đo lường - Về không gian: Các chỉ tiêu kinh tế cùng phải được quy đổi về cùng qui mô tương tự nhau ( Cụ thể là cùn một bộ phận, phân xưởng, một ngành…) Bước 3: Kỹ thuật so sánh Để đáp ứng cho các mục tiêu so sánh người ta thường sử dụng các kỹ thuật so sánh sau: - So sánh bằng số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc, kết quả so sánh này biểu hiện khối lượng, qui mô của các hiện tượng kinh tế. - So sánh bằng số tương đối: Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc. Kết quả so sánh này biểu hiện tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế. - So sánh bằng số bình quân: Là dạng đặc biệt của so sánh tuyệt đối, biểu hiện tính đặc trưng về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị kinh tế, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tích chất.
- So sánh mức độ tương đối có điều chỉnh theo quy mô chung… Ví dụ: Có số liệu tại một doanh nghiệp như sau: (1000đ) TT Khoản mục KH TH 1 Doanh thu 100.000 2 Giá vốn hàng bán 80.000 3 Chi phí BH và CPQL 12.280 Yêu cầu: Hãy phân tích sự biến động của các khoản mục bằng phương pháp thích hợp và cho nhận xét cần thiết. Hướng dẫn 12 - Lập bảng phân tích: (1000đ) Bảng 1.1: Bảng phân tích biến động các khoản mục Chênh lệch TT Khoản mục KH TH ± % 1 Doanh thu 100.000 30,0 2 Giá vốn hàng bán 80.000 32,5 3 Chi phí BH và CPQL 12.280 +280 3,5 - So sánh tình hình thực hiện (TH) so với kế hoạch (KH) - Phân tích về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: - Tỷ trọng của chi phí so với doanh thu qua 2 kỳ: - Kết luận quản trị: 2. Phương pháp liên hệ cân đối Là phương pháp dùng để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố mà giữa chúng có sẵn mối liên hệ cân đối và chúng là nhân tố độc lập. Một lượng thay đổi trong mỗi nhân tố sẽ làm thay đổi trong chỉ tiêu phân tích đúng một lượng tương ứng.
Những liên hệ cân đối thường gặp trong phân tích như: Tài sản và nguồn vốn; cân đối hàng tồn kho; đẳng thức quá trình kinh doanh; nhu cầu vốn và sử dụng vốn… Ví dụ1: Chỉ tiêu Q cần phân tích. Q chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố a, b, c và các nhân tố này có quan hệ với chỉ tiêu Q như sau: Q = a +b - c - Chỉ tiêu phân tích: Q = a + b - c Q0 = a0 + b0 - c0 Q1 = a1 + b1 - c1 - Đối tượng phân tích( so sánh giữa chỉ tiêu kỳ TT với chỉ tiêu kỳ KH) Q = Q1 - Q0 - Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: + Do ảnh hưởng của nhân tố a Q(a) = a1 - a0 + Do ảnh hưởng của nhân tố b 13 Q(b) = b1 - b0 + Do ảnh hưởng của nhân tố c Q(c) = - (c1 - c0) - Tổng hợp ảnh hưởng của 3 nhân tố Q(a) + Q(b) + Q(c) = Q * Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và ngay cả công tác hạch toán.