chương 1, chương 4, chương 5 và chương 15; - PGS. Trần Đăng Khâm biên soạn chương 8, chương 9 và chương 10; ~ TS. Lê Thị Hương Lan biên soạn chương 6, chương 12 và chương 13; ~ Th.S Nguyễn Hương Giang biên soạn chương 2 và chương II; ~ Th.S Vũ Thị Thúy Vân biên soạn chương 3 và chương 7; ~ Th.§ Nguyễn Ngọc Trâm và Lê Hoàng Anh, biên soạn chương 14. Giáo trình “Phân tích Đầu tư chứng khoán” là công trình chào mừng Lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và 'Viện Ngân hàng - Tài chính, Kỷ niệm 20 năm ngảy thành lập ngành Chứng.
khoán và Kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Bộ môn Thị trường chứng khoán. Đây cũng là tâm huyết của tập thể cán bộ, giảng viên Bộ môn Thị trường. chứng khoán, Viện Ngân hàng - Tài chính của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân gửi tới người học và người đọc. 'Tập thể tác giả trân trọng cảm ơn các đơn vị đối „ các đồng nghiệp, cộng tác viên, sinh viên và cao học viên đã hỗ trợ tích cực để chúng tôi có thể hoàn thành Giáo trình này.
Tập thể tác giả rất mong nhận được những. góp ý quý báu từ phía người học và người đọc để hoàn thiện Giáo trình trong những lần xuất bản tiép theo. Xim trân trọng cảm ơn! Hà Nội, thang 5 năm 2016 Tập thể tác giả Chương Ï TONG QUAN VE DAU TU CHUNG KHOAN “Tóm tắt nội dung. Đầu tư chứng khoán là một trong những cách thức đầu tư gián tiếp và ệu quả đối với các nhà đầu tư trong nền kinh tế có thị trưởng tài chính và thị trường chứng khoán phát triển.
Đối v: nước có thị trường chứng. khoán mới phát triển như Việt Nam, các vấn đề cơ bản về đầu tư chứng khoán cần được thống nhất và làm rõ. Theo đó, chương này sẽ làm rõ các phương thức đầu tư, cơ sở ra quyết định đầu tư cũng như mối quan hệ cơ bản giữa lợi tức và rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Lợi tức và rủi ro được đo lường một cách lượng hóa nhằm cung cấp cho nhà đầu tư và người học những công cụ cơ bản trong quá trình ra quyết định đầu tư chứng khoán.
NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VỀ ĐÀU TƯ CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm đầu tư chứng khoán Đầu tư chứng khoán cũng là hoạt động có bản chất giống như hoạt động đầu tư thông thường với việc chỉ một khoản vốn hoặc khoản tiền hiện tại nhằm kỳ vọng thu về một khoản tiền nhiều hơn trong tương lai. Khoản tiền chênh lệch giữa số tiền hiện tại và số tiễn nhận được trong tương lai được gọi là lãi. Lãi suất là tỷ lệ giữa khoản tiền nhận được trong tương lai và khoản tiên bỏ ra ở hiện tại.
Nếu bạn có thể đổi 100.000 đ hôm nay để lấy 104.000 đ một năm sau đó, lãi suất cho việc đầu tư (gọi là giá trị thời gian của tiền) là 4%. Như vậy, bạn đã từ bỏ 100.000 đ hôm nay dé ky vọng được tiêu dùng, 104.000 đ trong tương lai. Điều này có được với giả định rằng mức giá chung, trong nền kinh tế là không đổi. Nhưng nếu bạn nghĩ ỏ giá cả, bạn sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn để bù lại.
Ví dụ, bạn nghĩ rằng giá cả tăng (lạm phát) với tỷ lệ 2% trong suốt thời gian đầu tư, bạn sẽ yêu cẩu tăng lãi suất lên 2%. Trong ví dụ vừa rồi, bạn sẽ yêu cầu 106.000 đ trong tương lai để hy sinh tiêu dùng 100.000 đ trong suốt thời kỳ lạm phát (Mức lãi suất bù đắp rủi ro 6% trên danh nghĩa sẽ được yêu cầu để thay cho 4%). Hơn nữa, nếu việc thanh toán trong tương lai của khoản đầu tư không được chắc chắn, nhà đầu tư sẽ yêu cầu lãi suất bằng: giá trị thời gian của tiền + tỷ lệ lạm phát. Việc thanh toán cho khoản đầu tư là không chắc chắn được gọi là đầu tư.
Phần thêm vảo lãi suất phi rai ro danh nghĩa được. goi là phân bù rủi ro. Trong ví dụ trước, bạn sẽ yêu cầu nhiều hơn 106.000 đ một năm sau ngây đầu tư để bù đắp cho sự không chắc chắn của khoản thu nhập. Nếu khoản tiền yêu cầu là 110.000 đ (hay 4%) sẽ được xem là phẩn bù rủi ro.
"Từ ví dụ trên, có thể hiểu chính xác hơn, đầu tư là sự đánh đỗi tiêu dùng hiện tại trong mộtkhoảng thời gian để nhận được một khoảntiến lớn hơn trong tương lai, khoản tiền này phải đủ để bù đáp cho nhà đầu tư về: (1) khoảng thời gian đầu tư; (2) về tỷ lệ lạm phát kỳ vọng và (3) vẻ việc không chắc chắn được. thanh toán trong tương lai (củi ro thanh toán). Khải niệm đầu tư trên bao hàm tắt cả các loại hình đầu tư; từ đầu tư của các doanh nghiệp vào nhà xưởng và thiết bị cho đến hoạt động đầu tư của các cá nhân vào cổ phiếu, trái phiếu, hàng hoá hoặc bắt động sản. Trên ©ơ sở khái niệm đầu tư chung, đầu tư chứng khoán chính là hoạt động đầu tư tạo ra lợi nhuận trên cơ sở đầu tư vào các tài sản tải chính như cổ phiểu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh va các loại tải sản tài chính có giá khác.
“Trên cơ sở khái niệm đầu tư trên, hoạt động đầu tư chứng khoán được xem là hoạt động đầu tư gián tiếp hay đầu tư tải chính, nhằm phân biệt với hoạt động đầu tư thực (đầu tư trực tiếp). Đầu tư trực tiếp (đầu tư thực) là việc các nhà đầu tư (thường là các nhà đầu tư có tổ chức lớn hoặc là các doanh nghiệp) thực hiện việc bỏ vốn vào các tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy mỏc, trang thiết bị. Đầu tư gián tiếp(dau te tai chinh/ dau tw chieng khodin) \a vige các nhà đầu tư cá nhân hoặc tổ chức thực hiện việc bỏ vốn dé nắm giữ các hợp đồng, cam kết ghỉ trên giấy hoặc bút toán ghi số nh là trái phiếu, tín phiếu, cổ phiểu, góp vốn liên doanh. Phân loại đầu tư chứng khoán Căn cứ theo thời hạn đầu tư có thể chia thành đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư dài hạn.
Hoạt động đầu tư ngắn hạn thường có kỳ hạn dưới 1 năm, chủ yếu là hoạt động đầu tư ngân quỹ, hoạt động đầu tư hưởng. lợi và hoạt động đầu tư phòng vệ. Hoạt động đầu tư dài hạn tập trung ở hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát, đầu tư góp vồn liên doanh và hoạt động. 4 góp vốn của các nhà đầu tư chiến lược.
Một cách khác để phân loại hoạt động đầu tư là theo loại tải sản đầu tư. Theo cách này, có thể phân loại đầu tư chứng khoán thành hoạt động đầu tư cổ phiếu, đầu tư trái phiếu, đầu tư các công cụ phái sinh và đầu tư các tài sản tải chính khác. Nhằm mục tiêu hoạch định và thực thi chính sách đầu tư và quản lý danh mục đầu tư, hoạt động đầu tư có thể được phân loại theo mục đích đầu tư, thành: hoạt động đầu tư ngân quỹ; hoạt động đầu tư hưởng lợi, đầu tư phòng vệ và hoạt động đầu tư nắm quyển kiểm soát. a tue ngân quÿ' Hoạt động đầu tư ngân quỹ thường được thực hiện bởi các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn.
Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chỉ trả (nhu cầu giao dịch), nhu cầu dự phòng và dự trữ, các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn thường phải nắm giữ một lượng tiền khả lớn. Tuy nhiên, tiền không phải là tải sản sinh lời nên các đối tượng này thường có xu hướng tăng cường đầu tư vào các tài sản sinh lời, giảm dự trữ tiền, do vậy, khả năng phá sản lớn do khả năng thanh toán kém. Để khắc phục trường hợp nảy, các nhà quản trị tải chính thường đầu tư vào các chứng khoán ngắn. hạn có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền như tín phiếu kho bạc, CDs, kỳ phiếu ngân hàng, thương phiếu, v.
Bên cạnh khả năng sinh lợi, các chứng khoán này có vai trỏ như là các dự trữ thứ cắp khi nhu cầu thanh toán chỉ trả phát sinh. Cần phân biệt đầu tư ngân quỹ với hoạt động mua bán cổ phiếu quỹ của các công ty cỗ phần nhằm can thiệp giá cổ phiếu. mua bán cỗ phiếu quỹ không phải là hoạt động đầu tư bởi không nhằm mục đích kiếm lời và thường được sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý thị trường. Đầu tr hưởng lợi Khác với hoạt động đầu tư ngân quỹ nhằm đáp ứng khả năng thanh.
toán, hoạt động đầu tư hưởng lợi nhằm mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận từ hoạt động đâu tư có thể là lợi tức từ tài sản đầu tư như cổ tức được phân phối hàng năm, hay từ lợi tức của trải phiếu. Bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể thu được chênh lệch giá chứng khoán và các quyền lợi khác nếu có. Hoạt động đầu tư hưởng lợi có thể bao gồm: ~ Kinh doanh chênh lệch giá: là hoạt động mua bán chứng khoản nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá chứng khoán.
Ví dụ, một cỗ phiếu được niêm yết đồng thời trên thị trường chứng khoán 5 New York và thị trường chứng khoán Luân đôn. Trên thị trường chứng khoán Luân Đôn, cổ phiếu được niêm yết bằng đồng Bảng Anh, còn trên thị trường chứng khoán New York, cổ phiếu được niêm yết bằng đồng. Có thể xuất hiện cơ hội kinh doanh chênh lệch giá khi có sự chênh lệch giá của một cô phiếu này trên hai thị trường do các yếu tố về tỷ giá, lạm phát, lãi suất hay các yếu tố vĩ mô khác của cả hai thị trường. Một nhà đâu tư quốc tế có thể tiến hành mua hoặc bán đồng thời cổ phiếu này trên cả hai thị trường nhằm thu được lợi nhuận kinh doanh chênh lệch giá tức thì ~ Hoạt động đâu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm kiểm lợi nhuận từ sự biến động giá chứng khoán trong ngắn hạn.
Nhà đầu tư thường. không quan tâm đến kết quả hoạt động trong dài hạn của công ty phát hành mà chỉ quan tâm diễn biến giá của chứng khoán trong ngắn hạn, ra các quyết định đầu tư mua bán chứng khoán nhằm ghi nhận ngay lãi đầu tư. ~ Kinh doanh giảm giá (Bản khống): là hoạt động đầu tư hưởng lợi khi có hiện tượng giảm giá chứng khoán. Khi dự báo giá chứng khoán giảm, nhà đầu tư sẽ bán chứng khoán để chở giá hạ và mua lại.
Phần chênh lệch giá sau khi trừ chỉ phí giao dịch sẽ là thu nhập của nhà kinh doanh giảm giá.