Chương VII Puap LUAT VE CANH TRANH | — KHAI QUAT VE CANH TRANH VA PHAP LUAT VE CANH TRANH 1. Khai quat vé canh tranh a) Khái niệm cạnh tranh Theo cuốn Black ”law dictionary, cạnh tranh được diễn tả là: “sự nổ lực hoặc hành vì của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” °°. Theo Từ điển Comu của Pháp, cạnh tranh được hiểu là: “hành ví của các doanh nghiệp độc lập với nhan và là đối th của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nh cầu giống nhau, với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất di một lương khách hàng thường xuyên ” `”. Theo Từ điển kinh doanh của Vương quốc Anh, xuất bản nam 1992, cạnh tranh được định nghĩa là: “+ øa2h đua, sự kình địch giữa những nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng mỖi loại khách hàng vé phia minh” ™.
Theo Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh được hiểu là: “cố gắng dành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoại động nhằm mhưững lợi ích như nhau ” ?9 Qua việc khảo cứu các khái niệm trên cho thấy, không có khái niệm nào phản ánh được đầy đủ các khía cạnh pháp lý, kinh tế, xã hội của cạnh tranh. Nhưng có điềm tương đồng là các khái niệm trên đều phản ánh dấu hiệu đặc trưng của cạnh tranh là phải có sự ganh đua của ít nhất hai hay nhiều người * Brian A.Ganer: Black’ law dicnonary, ST. *” Neuven Hite Huyén’ Ludt Canh tranh cia Phap va Lién minh chau Âm, Nxb. Eh * Dang Va Hudn Pháp luật về kiểm xoát độc quyền và chong cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nịcb.
Chính trị quốc gia. ?" Viện ngôn ngữ: Từ điển néng Việt, Nxb: Đà Nang, 2004, tr. 59 là đối thủ của nhau trong cùng một lĩnh vực nhất định. Tiếp cận theo hướng này, cạnh tranh trong kinh doanh được hiểu là sự ganh đua, kình địch giữa các chủ thể kinh doanh cùng loại hàng hoá, địch vụ hoặc những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau nhằm mua hoặc bán hàng hoá, dịch vụ đó trên cùng mội thị trường.
Theo cách hiếu như trên, cạnh tranh có những đấu hiệu đặc trưng như sau: — Về chủ thể, cạnh tranh là một hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trên cùng một thị trường; - Về hình thức biểu hiện, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các chủ thể kinh doanh với nhau; — Về mục đích, cạnh tranh nhằm tranh giành thị trường mua hoặc bán hàng hoá, dịch vụ. b) Phán loại cạnh tranh Cạnh tranh là một hành vi có nhận thức và có chủ ý của các chủ thể cạnh tranh. Mục đích của cạnh tranh nhằm tranh giành thị trường mua hoặc bán hàng hoá, địch vụ và suy cho cùng là nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Mục đích của cạnh tranh về cơ bản là giống nhau nhưng hình thức biểu hiện của cạnh tranh thì lại muôn mầu, muôn vẻ.
Mỗi chủ thể kinh doanh có những thủ pháp, phương pháp cạnh tranh khác nhau và việc sử dụng thủ pháp, phương pháp cạnh tranh nào là phụ thuộc vào sự sáng tạo và chiến lược kinh doanh của họ. Cho nên việc phân loại cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra các phương thức cạnh tranh điển hình đồng thời qua đó giúp nhà nước xây dựng được các chính sách cạnh tranh phù hợp. - Căn cứ vào vai trò điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh được chía thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều Hết của Nhà nước + Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh mà ở đó thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp của Nhà nước. Lý thuyết về cạnh tranh tự do ra đời vào khoảng cuối thế thứ XIX, đầu thế kỷ XX, khi mà giá cả tự do vận động lên xuống theo sự chí phối của quan hệ cung cầu, của các thế lực thị trường.
Người đại diện tiêu biểu cho lý thuyết cạnh tranh tu do 14 Adam Smith (1723 - 1790). Thông qua học thuyết “bàn tay vô hình”, ông đã dé cao sự tự động điều tiết của cơ chế thị trường, mọi sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường chỉ làm rối loạn thêm sự điều tiết tự nhiên của thị trường. Nói cách khác, 60 sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường chỉ có hại. Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ này là kẻ thù của cạnh tranh, của đời sống kinh tế xã hội.
Do đó, nền kính tế thời kỳ này không cần đến sự kiểm soát và điều tiết của Nhà nước nên nhà nước cũng không cần ban hành ra các văn bản pháp luật về cạnh tranh. Tuy nhiên, Adam Smith cũng không phú nhận sự tổn tại khách quan của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường mà chỉ giới hạn vai trò của Nhà nước vào một số chức náng cơ bản nhằm bao dam trật tự của thị trường, như nhà nước phải ban hành ra các hàng rào thuế quan để bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ; Nhà nước phải thực hiện các chức năng như: bảo đảm an ninh, duy trì sự công bằng xã hội, xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng. * Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh mà ở đó Nhà nước bằng chính sách, bằng pháp luật của mình can thiệp vào thị trường để điều tiết các quan hệ cạnh tranh nhằm hướng chúng vận động và phát triển theo một trật tự nhất định, bảo đảm sự phát triển công bằng và lành mạnh. Lý thuyết vẻ cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước ra đời sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 — 1933.
Trong thời kỳ này, cạnh tranh tự do đã bộ lộ nhiều mặt trái của nó như nạn thất nghiệp, sự phá sản hang loạt, sự lãng phí tài nguyên. đã khiến bàn tay vó hình mất đi tác dụng. Trong thời kỳ này, xã hội và thị trường cần phải có bản tay hữu hình của một thế lực đủ mạnh, đứng trên các chủ thể kinh đoanh, bằng các công cụ, các chính sách cần thiết để ngăn chặn các hiện tượng nói trên. Do đó, xuất hiện nhiều quan điểm ủng hộ vai trò điều tiết của Nhà nước vào thị trường mà đại diện tiêu biểu là J.
Ông này đưa ra lý thuyết nhà nước diều tiết kinh tế thị trường. Trường phái Keynes tin wong rằng sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm hạn chế tối đa thị trường tự phát, các tác động xấu và khuyết tật của thị trường như suy thoái, khủng hoảng, thất nghiệp, giúp thị trường vận hành một cách ồn định, qua đó thúc đầy sự phát triển ổn định kinh tế — xã hội. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều duy trì mô hình cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước để điều hành nền kinh tế. Tuy nhiên, mức độ điều tiết của Nhà nước như thế nào vào thị trường thì không có một công thức chung cho các quốc gia, trừ một npuyên lý mà quốc gia nào cũng biết là mọi sự can thiệp thô bạo của bất kỳ thế lực nào vào thị trường không chỉ bóp méo diện mạo của cạnh tranh mà điều đó còn xâm hại đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.
61 - Căn cứ vào tính chất và mức độ biểu hiện, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền + Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó người mua và người bán không có khả năng tác động đến giá cả của thị trường. Ở hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được định đoạt một cách duy nhất thông qua quan hệ cung cầu, được xác định một cách khách quan ngoài ý muốn của những người tham gia. Cả người mua và người bán đều phải chấp nhận giá cả đang phổ biến trên thị trường. Cạnh tranh hoàn hảo bảo đảm được sự ganh dua giữa các chủ thể kinh doanh và bảo vệ được quyền lợi của số đông người tiêu dùng.
Tuy nhiên, hình thức cạnh tranh hoàn hảo chỉ mang tính lý thuyết dựa trên những điều kiện giả định của các nhà kinh tế mà không tồn tại trên thực tế. Bơi vì, cạnh tranh là một quy luật, một quy trình đầy tính năng động mà ở đó các yếu tố trên thị trường sẽ luôn vận động không ngừng, điều này sẽ phủ nhận khả năng tồn tại một hình thức cạnh tranh hoàn hảo ~ cạnh tranh ở trạng thái tĩnh. Nói cách khác, trên thực tế chỉ tồn tại hình thức cạnh tranh không hoàn hảo. + Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó các chủ thể kinh doanh có sức mạnh và quyền lực thị trường có thể kiểm soát và chi phối được giá cả các sản phẩm của họ trên thị trường.
Thực tế, thị trường luôn ấn chứa nhiều yếu tố không hoàn hảo nên mỗi chủ thể trên thị trường đều có một sức mạnh và quyền lực thị trường nhất định đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm. Do đó, cạnh tranh không hoàn hao là hình thức cạnh tranh xuất hiện ở hầu hết các Vinh vực của nên kinh tế. Phụ thuộc vào cách thức tác động đến giá cả trên thị trường, cạnh tranh không hoàn hảo bao gôm cạnh tranh mang tính độc quyền, độc quyền nhóm và độc quyền. * Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh mà ở trên thị trường mỗi chủ thể kinh doanh đều có mức độ độc quyền nhất định đối với sản phẩm mà họ sản xuất vì mỗi sản phẩm đều có sự khác biệt nhất định.
Mặc dù trên thị trường, các sản phẩm đó có thể thay thế cho nhau, song các chủ thể kinh doanh luôn nỗ lực cá biệt hoá sản phẩm của mình so với các sản phẩm cùng loại. Các tiêu chí thường được sử dụng để cá biệt hoá sản phẩm là kiểu dáng, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, chất lượng sản phẩm, dịch vụ bán hàng. Sự thành công trong việc cá biệt hoá sản phẩm phù hợp với sự đa 62 dạng và nhu cầu thường xuyên thay đổi của thị trường sẽ quyết định đến mức độ độc quyền và thành công của các chủ thể kinh doanh.