Chương 4 Paap LUAT VE DOANH NGHIEP NHA NUGC | — KHAI NIEM VA PHAN LOAI DOANH NGHIEP NHA NUOC 1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Sự tồn tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước là mội tất yếu trong cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, cơ chế điều chính pháp luật đối với các doanh nghiệp nhà nước ở các nước có thể có những sự khác nhau nhất định.
doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và đang cùng với các bộ phận khác của kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trải qua quá trình phát triển, trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về doanh nghiệp nhà nước cũng có những thay đối nhất định trước đồi hỏi của thực tiền kinh doanh. Trước khi có Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được hiểu là doanh nghiệp đo Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Doanh nghiệp nhà nước lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh số 104/SL ngày 1/1/1948 với tên gọi là doanh nghiệp quốc gia.
Theo Sắc lệnh này, doanh nghiệp quốc gia được hiểu là đoanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của Quốc gia và do Quốc gia điều khiển. Trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, những đơn vị kinh tế của Nhà nước được gọi là xí nghiệp quốc doanh (trong công nghiệp), nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (trong nông, lâm nghiệp), cửa hàng quốc doanh (trong thương nghiệp). Chuyển sang cơ chế kinh tế nới, quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng từng bước có sự đối mới. Thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước được sử dụng chính thức trong Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991, ban hành Quy chế vẻ thành lập và giải thế doanh nghiệp nhà nước.
Theo Nghị định này, doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu. Trong Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), doanh nghiệp nhà 91 nước được hiểu là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế — xã hội đo Nhà nước giao. Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp trong bối cảnh tự do hóa thương mại toàn cầu ngày càng sâu rộng, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 đã có quan điểm mới về doanh nghiệp nhà nước. Thco Luật này (Điều I), doanh nghiệp nhà nước được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cố phản, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Từ khái niệm này, có thể thấy doanh nghiệp nhà nước có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây: - Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước (vốn nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ và Nhà nước giữ quyền chỉ phối doanh nghiệp): — Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức đưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm công ty nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn; - Doanh nghiệp nhà nước có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (chế độ trách nhiệm hữu hạn); — Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, lấy thu bù chỉ và phải dam bảo có lãi đề tổn tại và phát triển. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu trong Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) không bị giới hạn bới việc quán lý của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu duy nhất; doanh nghiệp nhà nước cũng không đương nhiên mang thuộc tính phải thực hiện các nhiệm vụ kinh tế— xã hội do Nhà nước giao. Quan điềm về doanh nghiệp nhà nước như vậy cho phép mở rộng đến mức tối đa có thể có doanh nghiệp nhà nước, bao gồm không chỉ các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn, mà còn có các doanh nghiệp ở đó Nhà nước chỉ năm một phần vốn, có hình thức tổ chức quản lý là công ty ``. *“ Theo thông lệ quoc tế: người nào nắm quyên quản lý, chỉ phốt hoạt động của doanh nghiệp thi người đó được coi là chit so hint doanh nghiệp, trong khi hạ không nhất thiết phái nắm giit (dau tư) toàn bô số vốn vào doanh nghiệp.
Vì vậy, Luật Doanh nghiệp nhà nước không chỉ đề cập các doanh nghiệp mà nhà nước đâu rr 100% vốn mà còn để cập hiện tượng cổ phần chỉ phối và cổ phần đặc biết. 92 Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ được coi là doanh nghiệp nhà nước khi vốn của nhà nước tronp doanh nghiệp ở mức chỉ phối (trên 50% vốn điều lệ). Quyền chi phối đối với doanh nghiệp là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bố nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó ”. Có thể nhận thấy, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã dựa trên cơ sở ai góp vốn vào doanh nghiệp và góp ở mức độ nào để xác định và phân loại doanh nghiệp.
Cách phân loại này không thế hiện được chính xác và đầy đủ bản chất pháp lý của hình thức tổ chức kinh doanh. Xét về yêu cầu điều chỉnh pháp luật, các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn không cần thiết phải có sự khác biệt với các công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn khác theo Luật Doanh nghiệp. Việc phân chia doanh nghiệp nhà nước thành các loại hình khác nhau (theo Điều 6, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003), để từ đó có các quy định riêng vẻ tổ chức và hoạt động đối với chúng, chưa có những luận cứ khoa học và thực tiền thuyết phục. Trong khi đó những quy định tạo nên quyền lực của các cơ quan đại diện chủ sở hữu tại các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước (như quy định tại khoản 8, Điều 3, Luật Doanh nghiệp Nhà nước về quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết định quan trọng khác của doanh nghiệp), là cơ sở tạo nên sự bất bình đẳng giữa cổ đông chi phối là Nhà nước với các cổ đông chi phối là các tố chức, cá nhân ở các doanh nghiệp khác.
Cách tiếp cận này cũng làm cho phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) không rõ ràng. Điều này gây khó khăn không nhỏ cho việc giải thích và áp dụng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước. Quan điểm về đoanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi khi Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (khoản 22, Điều 4), doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Với quy định này, một doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp nhà nước không đương nhiên xác lập quyên chi phối của Nhà nước đối với doanh nghiệp. Quan điểm này tạo cơ sở cho việc tổ chức quản lý các doanh nghiệp có vốn nhà nước, đảm bảo sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư tham gia góp vốn. ” Khoản 5, 7,8, Diều 3, Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) 93 2. Phân loại doanh ghiệp nhà nước Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, đoanh nghiệp nhà nước có thế được phân chia thành nhiều loại.
Mỗi loạ: doanh nghiệp nhà nước có những đặc thù nhất định về tổ chức và hoạt động, bởi vậy được pháp luật điều chỉnh với những nội dung khác nhau nhất định về địa vị pháp lý. a) Dựa theo hình thức tổ chức, doanh nghiệp nhà nước được chia thành các loại sau: — Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hai hình thức là: công ty nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước; — Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cö đông là các cong ty nha nước hoc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo Luật Đoanh nghiệp: — Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tố chức quản ly và đãng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp; — Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có từ hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cá các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác được Nhà nước uy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật ]5oanh nghiệp; -- Doanh nghiệp có cố phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cô phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. b) Dựa theo cơ cấu chủ sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước được chia thành các loại sau: — Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu 100 % vốn, bao gồm: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên.
Ở những doanh nghiệp này, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp; - Doanh nghiệp Nhà nước có cổ phản, vốn góp chi phối của nhà nước, bao gồm công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên. Ở những 94 doanh nghiệp này, vốn của nhà nước trong vốn điều lệ chiếm trên 50%; nhà nước là cổ đông (thành viên) đa số trong doanh nghiệp.