mở đầu kỉ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam - kỉ nguyên đất nước độc lập. thống nhất, di lên chủ nghĩa Wi. Miền Bắc trải qua quá tình hơn 20 nàm tiến Anh cach mang XHICN. Trong thời gian th cm.
miền Bắc đã dựng được một bước cơ sav chất - kĩ thuật của CNXII Trong công nghiệp: Nhiều khu công nghiệphình thành: Hà Nội. Hải Phòng. Quảng Ninh, Viet TH, Thái Nguyễn. Thanh Hoá, Vinh.
Trong cơ cấu công nghiệp có những cơ sở lớn, vừa và nhỏ, có cóng nghiệp nặng công nghiệp nhẹ. Các ngành công nghiệp năng. then chốt được hình thành: công nghiệp điện. than, cơ khí, luyện kim, hoá hat, vật liệu xây dưng.
Ngành công nghiệp nhẹ được dựng tương dối hoàn chỉnh Giao thông vận tải đã -ó những tiến bộ rõ rệt xo với năm 1954 với các phương tiện vận và hệ thống đường bộ liền tỉnh, liên huyện, liên xã, đáp ứng dược nhu cầu phát triển kinh tế và đi li của nhân dân Trong nong nghiệp: Đồng ruộng miễn Bắc nhiều nơi đã được quy hoạch, cải tạo hệ thống bờ vùng, bờ thứa, được san lấp bằng phẳng; hệ thống thuỷ nông đảm bảo tưới tiêu cho hàng nghìn hécta, góp phẩn đưa hệ sổ sử đụng ruộng đất tăng từ 1,4 lần năm 1955 lên 1:75 lần năm 1974. 45% số hợp tác xã nông nghiệp miền Bắc được trang bị cơ khí nhỏ. Những thành tựu xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật trong nông nghiệp đã góp phần quyết định vào thẳng lợi của cuộc cách mạng xanh trên đồng ruộng miền Bắc. Vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thé ki XX, giống mới ngắn ngày với năng suất cao đã chiếm ưu thế, tạo sự thay đổi lớn trong cơ cẩu mùa vụ ở miền Bắc, Vụ đông đã hình thành.
và ngày càng đồng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp miền Bắc, Trong hơn 20 năm sau khi hoàn toàn giải phóng (1934 - 1975) miễn Bắc chỉ có khoảng một nửa thời gian là hoà bình để xây dựng CNXH. Thời gian còn lại vừa xây dựng 'CNXH, vừa phải đối mặt trực tiếp với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quản và hải quan của giặc Mĩ, Trong thời gian đó, miền Bắc đã 4 lần chuyển hướng xây dựng kinh tế. Qua hai lần chiến tranh phá hoại do Mĩ tiến hành, miền Bắc bị tàn phá nàng nể. Hầu tiết các thành phố, thị xã đều bị đánh phá; trong số đó 12 thị xã, S1 thị trấn bị phá huỷ hoàn toàn, 5 trigu m? nha ở bị phá huỷ, Gần 70% số xã ở miền Bắc bị dánh phá (4000/5788 x8), trong đó có 30 xã bị phá huỷ hoàn toàn.
Các cơ sở kinh tế bị huỷ hoại nghiêm trọng. Tất cả các khu công nghiệp bị ném bơm, nhiều khu bị đánh với mức độ huỷ diệt. Trong nông nghiệp, hấu hết các nông trường, 1600 công trình thuỷ lợi bị dảnh phá, thiệt hại nặng. Hang tram nghin hécta ruộng đất bị hoang hoá do bom đạn cày xới mất tầng canh tác hoặc.
do thiếu sức lao động.000 trâu bò bị giết hại. He thống giao thông vận tải của miền Bắc bị đánh phá dữ doi, Tất cả các hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không đều bị hư hỏng nặng, tong đó 100% cầu bị dánh phá.000 trường học, 350 bệnh viện, trong đó có 10 bệnh viện bị sản bằng, Miễn Bắc còn phải của cuộc chiến tranh. Sau chiến tranh, hàng chục vạn người xuất ngũ cùng với hàng nghìn người trước đây phục vụ chiến đấu, không có việc làm. Hau quả của cuộc chiến tranh đối với miễn Nam còn nặng nể hơn.
Làng mạc, đồng ruộng bị tần phá. Nửa triệu hécta ruộng thục bị bỏ hoang. Một triệu hécta rừng bị chất độc hoá học và bom đạn cày xi. Sau ngày giải phóng (1975), bom mìn còn vùi lấp trên cánh.
đồng, tuộng vườn, nơi cư trú của nhân dân. Quảng Trị có 150 cân cứ lớn nhỏ của Mĩ, chúng đã trút xuống dày 1. Sau chiến tranh, bom mìn chưa nổ còn dày đặc ở Quảng Trị, như ở chùa Tấm Mái - Đông Hà với mặt độ 3 quả /Im°; ở Bến Ngự - Gia Linh là 2 quả/ImÈt!, (1). Báo NHôn đâu ngày 4-3-1976 - Cuộc chiếu đi thẩm làng Ở miễn Nam, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh hoá học mà dư luận thế giới cho là chưa từng có trong lịch sử chiến tranh.
Mĩ đã rải chất độc hoá học huỷ hoại 1/7 đất đai ở miền Nam. Bình quân mỗi người dân miền Nam phải chịu 3kg chất độc hoá học. Theo công bố của Mĩ: Mĩ đã tải xuống miễn Nam 72 trigu lít chất độc điệt cỏ (chất độc màu da cam) và có hơn 9% lính i tham chiế Nam (khoảng 20 vạn người) đã bị nhiễm chất độc màu da cam. ở Việtn “Trên thực tế, theo nhiều nhà khoa học trên thể gi tải xuống miền Nam gần 100.
triệu lít chất độc diệt cỏ!". Nhưng tác hại của chất độc hoá học mà Mĩ gây ra nhằm vào nhân dân ta ở miền Nam gấp nhiều lần so với lính Mĩ bị nhiềm độc. Hơn thể, môi trường sinh thái ở những vùng bị nhiễm độc gây tác hại không chỉ cho những người sống trong chiến tranh mà còn gây di hại cho các thế hệ sau, kể cả những người không tham gia chiến tranh Bên cạnh sự tần phá nặng nề của chiến tranh, nhân dàn La ở miễn Nam còn phải đ đầu với hậu quả tai hại của chủ nghĩa thực dân mới. Về chính tị, Mĩ rút quản về nước, chế độ Sài Gòn sụp đồ, đã để lại lực lượng lớn nguy quản nguy quyền.
Riêng về lực lượng vũ trang, 117.000 phòng vệ dàn sự, trong đó 38 vạn có vũ trang, Nếu kể cả lực lượng nguy. quyền và gia đình họ thì có khoảng5 triệu người trước ngày 30 - 4 -1975 sống dựa vào Mĩ. Đây là một lực lượng lớn mà trước ngày miền Nam giải phóng, họ còn là những người dứng bên kia chiến tuyển.sẽ Hơn nữa, trước khi Sài Gòn giải phóng, bộ máy tâm lí chiến của Mĩ - ngụy tuyên truyền hàng có cuộc "tắm máu” khi Sài Gòn rơi vào tay cộng sản. Họ đã gây tâm lí hoàng sg trong Đây ngũ những người thuộc chính quyển và quản đội nguy nhằm tạo sự chống đổi kéo đài.
thực sự là mối đe đoạ đối với sự ổn định chính trị và xã hội ở miễn Nam. Nam tong Về kinh tết Trong hơn 20 năm là thuộc địa của để quốc Mĩ, kinh tế miễn sở đầu tiên có những cơ chừng mực nhất định có bước phút triển theo hướng tư. bản, đã CNTB, nhưng chưa có nên sin xuất lớn TBCN. Về cơ bản nến kinh tế miễn vàNamphân ntáncònlà nhỏ mang nặng tính chất của một nên kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nghĩa và chủ thực dân mới phổ biển.
Nến kinh tế đó lại phục vụ cho chiến tranh xâm lược. nên quề quật, mất cân đối, lệ thuộc nặng nể vào nước ngoài. 'Theo số liệu thống kẽ của chính quyền nguy, hàng năm dưới nhập thời Mĩ - nguy giá trị xuất khẩu của miễn Nam là từ 15 đến 70 triệu USD nhưng giá trị (từ khẩu là 800 triệu hơn 20 năm. Để có thể tồn tại trong nguy quyền Si Gòn đã nhận trên 26 tỉ USD viện trợ gồm 16 tỉ USD viên trợ quản sự, 6 thức USD vign trợ khoa học kĩ thuật, 1.6 tỉ USD viện trợ nông phẩm.
2‡ tỉ USD đưới hình đổi lấy tiền nguy chỉ tiêu tại chỗ. Bío Quản đội nhấn dâu ngày 14.2003, hài "Tích nhiện đạolỉ cóa Mĩ đố với nạn nhân của chất (độc màu dã cam. 2) Bio Nhân đâu ngày 5-5-1915 Thắng lợi vì địi của quân và đâu tớ tang cốc tổng công Kích. Cơ ấu h tế mất can đổi dược thể hiện ở tỉ trọng giá trị sản lượng các ngành kinh tế, trong đồ công nghiệp và xây đựng chiểm khoảng 9 đến 10%, nông nghiệp chiểm 30 đến 40%, còn địch vụ chiểm Nong nghiệp miền j đẩy lùi: Từ chỗ sân xuất hàng năm thữa một triệu tấn gạo xuất khẩu đ chỗ hàng năm thiểu hụt 1 triệu tấn lương thực.
Không chỉ nhập khẩu lương thưc, chính quyềnSài Gòn còn nhập nhiều loại nông sẵn khác. Theo thống kê của nguy quyền Sải Gòn năm 1973, miền Nam phải nhập 105.800 tấn lương thực, 11.300 tấn thịt sữa, bơ trứng, Toàn bộ nóng nghiệp miền Nam phụ thuộc vào nước ngoài ở mức cao về phân bón, thuốc trữ sảu, giống, máy móc nông nghiệp: Công nghiệp miễn Nam nhỏ bé, phát triển trên co sở chế biến nguyên liệu nhập khẩu, phụ thuộc nước ngoài về vớn, máy móc, nguyên liệu, nhiên liêu và cả cán bộ kĩ thuật. Hãng nâm miền Nam nhập khẩu (chủ yếu từ Mĩ hoặc Mĩ cung cấp Đôla mua của nước khác) 90% nhiện liệu đồng cho các ngành kinh tế và sinh hoạt; 709 nguyên liệu đùng cho ic ngành công nghiệp, trong đó 100%£ sắt thép, 2/3 xi mảng. so với trước 1954, công.
nghiệp miễn Nam vẫn có bước phát triển, Toàn miễn Nam có khoảng 4.000 cơ sớ sẵn xuất công nghiệp, trong đó có khoảng 500 cơ xở sản xuất từ 100 công nhân trở lên, có hi lạ chục Xí nghiệp lớn được trang bị tương dối hiện dại. Một khu công nghiệp tương đời hoàn chỉnh được Xây dựng ở Biên Hoà. “Tuy nhiên, công nghiệp miễn Nam rất nhỏ bé. Khoảng 90% cơ sở sản ï thuộc loại vừa và nhỏ.
Công nghiệp nặng chỉ có một sổ ngành như nấu thép nhỏ, cơ khí sits chit. Cong nghiệp mới thu hút được 5% lực lượng lao động ở miễn Nam. Sau ngày 30 - 4 - 1975, các chủ lớn chạy ra nước ng nguốn nguyên vặt liệu, nhiên liệu nhập khẩu đột hgột làm cho sẵn xuất công ngh n Nam gặp nhiều khó Khan, TÌhương nghiệp miền Nam phát hiển quá mức nhầm phục vụ cho guồng máy chiến tranh xâm lược của Mĩ. 40% dàn số sống ở thành thị (trong khi công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 9 dến 10% tổng sản phẩm xã hội).
Miền Nam trước ngày giải phóng có chừng 39 van hộ kinh doanh thường nghiệp, chưa kể mạng lưới dày đặc những người buôn bán nhỏ không cửa hiệu, không dàng kí kinh doanh, Hàng hoi ở thị trường khú dồi đào, nhưng không phải được tạo rủ từ sản xuất nộ 1, nguy áp, nguồn hàng và thị tường không còn, dày những người buôn bán đến chỗ thất nghiệp. \é tai chink và tiến sẻ, sản xuất, lưu thông tiêu dùng đều lệ thuộc Mĩ, nêu tài chính tiến tệ cũng lệ thuộc Mĩ. 2/3 ngân sách của nguy quyền là do viện ượ Mĩ (đo bán hàng trợ Và thuế đánh vào hàng viện tợ mà có). Vì vậy, trước giải phóng, thị trường miễn Nam thường rối ren, tiểu tệ lạm phát.