mở đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa"”0). Xuất phát từ những cơ sở trên, Đảng ta quyết định đưa miền Bắc tiền thắng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Quyết định này cũng chính là sự vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta. Ở miền Nam, theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, lực lượng Liên hiệp Pháp tạm thời năm quyền kiểm soát trong hai năm.
Nhưng trong quá trình đó, để quốc Mĩ dã gạt Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do vậy chưa hoàn thành. Trong điều kiện ay, nhân dân ta ở miền Nam có nhiệm vụ đây mạnh đấu tranh chống để quốc Mĩ và tay sai, thực hiện giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình thông nhất nước nhà. Như vậy, từ cuối năm 1954, sau ngày hoà bình lập lại.
trong một giai đoạn lịch sử, dưới sự lãnh đạo của một Đảng, nhân dân ta tiến hành cùng một lúc hai chiến lược cách mạng khác nhau: ') Lê Duẫn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1970, tr. 241 Chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây chính là một đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7/1954 đến tháng 5/1975.
Mỗi cuộc cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể, cấp bách của mỗi miễn, nhưng có mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, mà còn phải làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc cách mạng giải phóng miền Nam và cho cả sự nghiệp xây dung dat nước sau khi thống nhất. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam không chỉ đánh đổ ách thống trị của dé quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, mà còn phải ra sức bảo vệ miền Bắc có điều kiện hoà bình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóng miền Nam, đồng thời cũng phải dùng sức mạnh của cả nước dé bảo vệ và xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đó là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa cách mạng hai miền Nam - Bắc từ sau năm 1954. Trong mối quan hệ trên, mỗi chiến lược cách mạng có một vị trí, vai trò khác nhau. Miền Bắc là hậu phương, cho nên cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước. Miền Nam là tiền tuyến, cho nên cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dan 6 miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất đất nước.
Cả hai chiến lược cách mạng ở hai miền đều nhằm thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đấu tranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiễn bộ xã hội. Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954 - 1960) Sau ngày giải phóng, miền Bắc nước ta đứng trước nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội: Nền kinh tế nước ta vốn là nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề. Trong các vùng nông thôn mới giải phóng, hậu quả do các cuộc can quét của địch để lại hết sức nghiêm trọng: Khoảng 14 vạn ha ruộng đất bị bỏ hoang; hệ thống thủy lợi hư hỏng nặng.000 ha không nước tưới tiêu, cần cỗi và úng ngập: thôn xóm tiêu điều. xơ xác: nhân công, nông cụ và trâu bò bị thiếu nghiêm trọng.
Từ cuối năm 1954 đến nửa đầu năm 1955, nạn đói lan rộng tới trên 200 xã. Các thành thị vừa mới tiếp quản mang nặng tính chất buôn bán, tiêu thụ là chủ yếu. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng. Nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc thiếu thốn.
Gần 50% kho tàng, công sở bị phá hoại. Thương nghiệp bị đình đốn, các hoạt động đầu cơ tích trữ, nâng giá lũng đoạn thị trường diễn ra phổ biến. Tiền tệ chưa thống nhất, nền kinh tế quốc dân mắt cân đối gay gắt.000 lao động thất nghiệp. Hàng trăm ngàn người lâm vào cảnh thiêu đói.
Ở các vùng tự do cũ trong kháng chiến, tuy công nghiệp và nông nghiệp có phát triển, nhưng quy mô nhỏ bé, kĩ thuật lạc hậu nên năng suất rất thấp, không thẻ đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống ngày càng cao của nhân đân. Trong khi đó, các phần tử tể ngụy rã đám chưa qua cải tạo, lực lượng thổ phi và bọn gián điệp, đặc vụ nước ngoài được cài lại vẫn ngắm ngầm hoạt động., càng làm cho tình hình chính trị xã hội thêm phức tạp. Tình hình trên đặt ra cho Đảng và nhân dân miền Bắc một nhiệm vụ hết sức nặng né 1a khan trương khôi phục kinh tế, hàn gắn 243 vết thương chiến tranh. Muón vậy, nhiệm vụ trước mắt là phải tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất.
Trong hoàn cảnh đấu tranh để thống nhất nước nhà, việc thực hiện cải cách ruộng đất vừa phải thoả mãn quyền lợi về kinh tế và chính trị của nông dân, củng có khối liên minh công nông, vừa phải mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Tại kì họp lần thứ 4 (3/1955), Quốc hội thông qua nghị quyết tán thành điều chỉnh và bổ sung của Chính phủ về cải cách ruộng đất: dùng hình thức toà án thay cho những cuộc đấu tố của nông dân, thu hẹp diện tịch thu và trưng thu, mở rộng diện trưng mua, chiếu cố những địa chủ kháng chiến và gia đình địa chủ có con em là bộ đội, cán bộ, viên chức cách mạng. Trên cơ sở đó, đợt 6 giảm tô và đợt 2 cải cách ruộng đất là những đợt đầu tiên được tiến hành trong hoà bình. Từ lúc này trở đi, cuộc phát động quần chúng nông dân bắt đầu lan rộng vào vùng trung du và đồng bằng mới giải phóng.
Ngày 20/7/1956, đợt 5 cải cách ruộng đất kết thúc. Đây là đợt cuối cùng và là đợt lớn nhất trong cải cách ruộng đất, được tiến hành trên phạm vi 1.732 xã với 6 triệu dân ở 20 tỉnh và 2 thành phố. Trong quá trình cải cách ruộng đất, chúng ta đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài. Sau khi phát hiện sai lầm (4/1956), Đảng ta đã có chỉ thị sửa sai.
Sau một năm sửa sai (1957), công cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành thắng lợi. Chúng ta đã tịch thu, trưng thu và trưng mua 810.000 ha ruộng đất, trên 100.000 nông cụ từ trong tay giai cấp địa chủ chia cho 2.000 hộ nông dân lao động (chiếm 72,8% số hộ ở nông thôn được chia ruộng đất). Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vĩnh viễn bị thủ tiêu. Chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân được xác lập.
Nông dân thực sự trở thành người chủ ở nông thôn không chỉ về chính trị, mà cả về kinh tế. Khối liên minh công nông - nền tảng của chuyên chính vô sản - được củng cố một bước. 244 Thăng lợi của cải cách ruộng đất là thăng lợi to lớn và căn bản. làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền Bắc.
Nó đem lại niềm phan khởi trong nông dân. có tác dụng rất lớn trong việc đây mạnh sản xuất, khôi phục kinh tế. hàn gắn vết thương chiến tranh. Nhiệm vụ khôi phục kinh tế được tiến hành trong điều kiện hết sức gay gắt của một xã hội vốn là thuộc điạ vừa trải qua chiến tranh tàn phá nặng nẻ.
ngay từ tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra nghị quyết vạch rõ nhiệm vụ trước mắt của miền Bắc là ôn định trật tự xã hội, ôn định vật gia, ổn định thị trường. Yêu cầu của nhiệm vụ khôi phục kinh tế là sau hai năm về cơ bản phải đưa mức sản xuất lên ngang bằng mức trước chiến tranh (1939), nhằm giảm bớt khó khăn, nâng cao một bước đời sống của nhân dân; phát triển kinh tế một cách có kế hoạch; mở rộng giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước. Sản xuất nông nghiệp được đặc biệt coi trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) nhắn mạnh: phải nhận thức đầy đủ và sâu sắc về tính chất rất trọng yếu của sản xuất nông nghiệp đối với cả nền kinh tế nước ta hiện nay và sau này.
Phải khôi phục sản xuất nông nghiệp đề giải quyết vấn đề lương thực (trước mắt là cứu đói và phòng đói) làm cơ sở cho việc khôi phục và phát triển công - thương nghiệp. Phải khôi phục sản xuất nông nghiệp và làm nghề phụ ở nông thôn để nâng cao sức sống của nông dân; thông qua đó, củng cố công nông liên minh. Nhân dân ta có những cô gắng phi thường, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn dé khôi phục và phát triển sản xuất. Nhà nước cho nhân dân vay vốn để đầu tư vào sản xuất, ồn định đời sống.
Nhờ đó, đến cuối năm 1957, những vết thương chiến tranh trên đồng ruộng đã được hàn gắn: 125.000 mẫu ruộng hoang được đưa vào sản xuất, 12 hệ thống nông giang được sửa chữa cùng với việc xây dựng thêm những công trình thuỷ nông mới. Một hệ thống đê điều với chiều đài 3.500 km được tu sửa và bồi đắp. 245 Những kết quả trên đã góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực và hoa màu. Tính đến năm 1956, miền Bắc sản xuất được khoảng 4 triệu tấn lương thực (vượt xa so với năm 1939: 2,4 triệu tấn).
Tổng sản lượng hoa màu quy ra thóc đạt bình quân hàng năm là 680.000 tan (gấp 3 lần mức năm 1939: 220. Nạn đói có tính chất kinh niên ở miền Bắc bước đầu được giải quyết: đời sống nhân dân được cải thiện một bước. VỀ công nghiệp, Đảng ta chủ trương trước tiên phải chú trọng khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ; đồng thời củng có và phát triển các cơ sở công nghiệp nặng trong phạm vi cần thiết và có khả năng.