Giáo Trình Kỹ Thuật An Toàn Mỏ Lộ Thiên Phần 1

Giáo trình kỹ thuật an toàn mỏ lộ thiên phần 1 cung cấp kiến thức cần thiết cho sinh viên ngành khai thác mỏ tại trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh.

Chuyên ngành

Kỹ Thuật An Toàn Mỏ Lộ Thiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2014

101
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG KIẾN THỨC CHUNG VỀ AN TOÀN - VỆ SINH LAO ĐỘNG

1.1. Điều kiện lao động và các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động

1.1.1. Khái niệm điều kiện lao động

1.1.2. Các yếu tố nguy hiểm trong lao động

1.1.3. Yếu tố có hại đối với sức khỏe trong lao động

1.1.4. Các yếu tố vi sinh vật có hại

1.1.5. Các yếu tố về cường độ lao động, tư thế lao động gò bó và đơn điệu

1.2. Mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động

1.2.1. Mục đích của công tác an toàn và bảo hộ lao động

1.2.2. Ý nghĩa của công tác an toàn và bảo hộ lao động

1.2.2.1. Ý nghĩa Chính trị
1.2.2.2. Ý nghĩa xã hội
1.2.2.3. Ý nghĩa kinh tế

1.2.3. Tính chất của công tác an toàn và bảo hộ lao động (AT&BHLĐ)

1.2.3.1. Tính khoa học - Kỹ thuật
1.2.3.2. Tính pháp luật

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Kỹ Thuật An Toàn Mỏ Lộ Thiên

Giáo trình Kỹ thuật An toàn Mỏ lộ thiên là tài liệu quan trọng cho sinh viên ngành khai thác mỏ. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức về an toàn lao động mà còn giúp nâng cao nhận thức về các quy định pháp luật liên quan. Trong bối cảnh ngành khai khoáng đang phát triển mạnh mẽ, việc trang bị kiến thức an toàn lao động là rất cần thiết để giảm thiểu tai nạn lao động.

1.1. Mục tiêu của giáo trình Kỹ thuật An toàn Mỏ

Giáo trình nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về an toàn lao động trong khai thác mỏ, giúp sinh viên hiểu rõ các quy định và tiêu chuẩn an toàn cần thiết.

1.2. Đối tượng sử dụng giáo trình

Tài liệu này không chỉ dành cho sinh viên mà còn cho kỹ sư và cán bộ khoa học trong ngành khai thác khoáng sản, nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành.

II. Vấn đề an toàn lao động trong khai thác mỏ lộ thiên

Tai nạn lao động trong ngành khai thác mỏ lộ thiên đang gia tăng, với nhiều nguyên nhân chủ yếu từ việc vi phạm quy định an toàn. Theo thống kê, số vụ tai nạn lao động không có xu hướng giảm, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện nhận thức và thực hành an toàn lao động.

2.1. Nguyên nhân gây tai nạn lao động

Nguyên nhân chủ yếu bao gồm sự thiếu sót trong việc tuân thủ quy định an toàn và sự thiếu hiểu biết của người lao động về các yếu tố nguy hiểm trong môi trường làm việc.

2.2. Hệ quả của tai nạn lao động

Tai nạn lao động không chỉ gây thiệt hại về sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến năng suất lao động và uy tín của doanh nghiệp trong ngành khai thác.

III. Phương pháp đảm bảo an toàn lao động trong khai thác mỏ

Để giảm thiểu tai nạn lao động, cần áp dụng các phương pháp an toàn hiệu quả. Việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho người lao động là rất quan trọng. Các biện pháp kỹ thuật và tổ chức cũng cần được thực hiện đồng bộ.

3.1. Đào tạo và huấn luyện an toàn lao động

Đào tạo thường xuyên giúp người lao động nhận thức rõ hơn về các nguy cơ và cách phòng tránh tai nạn trong quá trình làm việc.

3.2. Áp dụng công nghệ an toàn trong khai thác

Sử dụng công nghệ hiện đại trong khai thác mỏ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời bảo vệ sức khỏe người lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giáo trình Kỹ thuật An toàn Mỏ

Giáo trình không chỉ là tài liệu học tập mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho các kỹ sư và cán bộ trong ngành. Việc áp dụng kiến thức từ giáo trình vào thực tiễn sẽ giúp cải thiện điều kiện làm việc và an toàn lao động.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ giáo trình

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các kiến thức an toàn từ giáo trình đã giúp giảm thiểu tai nạn lao động trong các dự án khai thác mỏ.

4.2. Thực tiễn áp dụng tại các doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng các phương pháp an toàn từ giáo trình, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ sức khỏe người lao động.

V. Kết luận về tương lai của giáo trình Kỹ thuật An toàn Mỏ

Giáo trình Kỹ thuật An toàn Mỏ lộ thiên sẽ tiếp tục được cập nhật và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về an toàn lao động trong ngành khai thác. Việc nâng cao nhận thức và thực hành an toàn là nhiệm vụ quan trọng trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển giáo trình

Giáo trình sẽ được bổ sung thêm các nội dung mới về công nghệ và quy định an toàn, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong ngành khai thác.

5.2. Tầm quan trọng của an toàn lao động trong tương lai

An toàn lao động sẽ ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong sự phát triển bền vững của ngành khai thác mỏ, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG KIẾN THỨC CHUNG VỀ AN TOÀN - VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Điều kiện lao động và các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động 1. Khái niệm điều kiện lao động Ðiều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất. Ðể có thể làm tốt công tác bảo hộ lao động thì phải đánh giá được các yếu tố điều kiện lao động, đặc biệt là phải phát hiện và xử lý được các yếu tố không thuận lợi đe dọa đến an toàn và sức khỏe người lao động trong quá trình lao động.

Các yếu tố nguy hiểm trong lao động Là những yếu tố có nguy cơ gây chấn thương hoặc chết người đối với người lao động, bao gồm: 1. Các bộ phận truyền động, chuyển động Trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động; sự chuyển động của bản thân máy móc như: ô tô, máy trục, tàu biển, sà lan, đoàn tàu hỏa, đoàn goòng có nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt; Tai nạn gây ra có thể làm cho người lao động bị chấn thương hoặc chết. Nguồn nhiệt Ở các lò nung vật liệu, kim loại nóng chảy, nấu ăn. tạo nguy cơ bỏng, nguy cơ cháy nổ.

Nguồn điện Theo từng mức điện áp và cường độ, dòng điện có thể tạo ra nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, cháy do chập điện.; làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch. Vật rơi, đổ, sập Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây ra như sập lò, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường hầm; đổ tường, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hoá trong sắp xếp kho tàng. Vật văng bắn Thường gặp là phoi của các máy gia công như: máy mài, máy tiện, đục kim loại; gỗ đánh lại ở các máy gia công gỗ; đá văng trong nổ mìn. Nổ - Nổ vật lý: Trong thực tế sản xuất có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, các bình chứa khí nén, khí thiên nhiên hoá lỏng vượt quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu.

Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh. 3 - Nổ hóa học: Là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn phá hủy các công trình, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ. Các chất có thể gây nổ hóa học bao gồm các khí cháy và bụi khi kết hợp với không khí đạt đến một tỷ lệ nhất định kèm theo có mồi lửa thì sẽ gây nổ. Mỗi loại khí cháy nổ có thể nổ được khi hỗn hợp với không khí đạt được một tỷ lệ nhất định.

Khoảng giới hạn nổ của khí cháy với không khí càng rộng thì sự nguy hiểm về giới hạn nổ hóa học càng tăng. - Nổ vật liệu nổ (nổ chất nổ): Sinh công rất lớn, đồng thời gây ra sóng xung kích trong không khí và gây chấn động trên mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định. - Nổ của kim loại nóng chảy: Khi rót kim loại lỏng vào khuôn bị ướt, khi thải xỉ. Yếu tố có hại đối với sức khỏe trong lao động Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khỏe người lao động, gây bệnh nghề nghiệp.

Ðó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc và các sinh vật có hại. Vi khí hậu xấu Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người. - Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị.

Nhiệt độ quá cao sẽ gây nên bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh. - Ðộ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi. - Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người.

Tiếng ồn Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm,. Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn dễ gây các bệnh nghề nghiệp như điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ. Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh, dễ dẫn đến tai nạn lao động.

Rung Rung từng bộ phận có ảnh hưởng cục bộ xuất hiện ở tay, ngón tay khi làm việc với cưa máy, búa máy, máy đánh bóng. Rung gây ra chứng bợt tay, mất cảm giác, ngoài ra gây thương tổn huyết quản, thần kinh, khớp xương, cơ bắp, xúc giác và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn nội tiết. Rung toàn thân thường xảy ra đối với những người làm việc trên phương tiện giao thông, máy hơi nước, máy nghiền,. Chấn động làm co hệ thống huyết mạch, tăng huyết áp và nhịp đập tim.

Tuỳ theo đặc tính chấn động tạo ra thay đổi ở từng vùng, từng bộ phận trên cơ thể người. Bức xạ và phóng xạ 1. Nguồn bức xạ: - Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại. - Lò thép hồ quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại.

Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Phóng xạ: Là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng ion hoá vật chất. Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ.

Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, rối loạn chức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư và tử vong. Chiếu sáng không hợp lý (chói quá hoặc tối quá) Chiếu sáng không đảm bảo làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động, dễ gây ra tai nạn lao động. Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động. Bụi Bụi là tập hợp của nhiều hạt có kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí; nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0,55  m; khi hít phải loại bụi này sẽ có 7080% lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi phổi.

- Bụi hữu cơ: nguồn gốc từ động vật, thực vật. - Bụi nhân tạo: nhựa, cao su,. - Bụi kim loại: sắt, đồng,. - Bụi vô cơ: silic, amiăng,.

Mức độ nguy hiểm, có hại của bụi phụ thuộc vào tính chất lý học, hóa học của bụi. Bụi có thể gây cháy hoặc nổ ở nơi có điều kiện thích hợp; làm giảm khả năng cách điện của bộ phận cách điện, gây chập mạch; gây mài mòn thiết bị trước thời hạn; làm 5 tổn thương cơ quan hô hấp, xây sát, viêm kinh niên, tuỳ theo loại bụi có thể dẫn đến viêm phổi, ung thư phổi; gây bệnh ngoài da; gây tổn thương mắt. Bệnh bụi phổi phổ biến hiện nay bao gồm: + Bệnh bụi phổi silíc (Silicose) là do bụi silic, hiện nay ở nước ta có tỷ lệ rất cao chiếm khoảng 87% bệnh nghề nghiệp. + Bệnh bụi phổi amiăng (Asbestose) do bụi amiăng.

+ Bệnh bụi phổi than (Antracose) do bụi than. + Bệnh bụi phổi sắt (Siderose) do bụi sắt. Các hóa chất độc Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản như: chì, asen, crôm, benzen, rượu, các khí bụi, các dung dịch axít, bazơ, kiềm, muối, các phế liệu, phế thải khó phân hủy. Hóa chất độc có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi,.

tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất. Hóa chất độc có thể gây ảnh hưởng tới người lao động dưới dạng nhiễm độc cấp tính, nhiễm độc mãn tính. Hoá chất độc thường được phân loại thành các nhóm sau: - Nhóm 1: Chất gây bỏng kích thích da như axít đặc, kiềm,. - Nhóm 2: Chất kích thích đường hô hấp như clo, amoniắc, SO3,.

- Nhóm 3: Chất gây ngạt như các oxit cacbon (CO2, CO), mê tan (CH4),. - Nhóm 4: Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như H2S (mùi trứng thối), xăng,. - Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ thể như hyđrôcacbon các loại (gây độc cho nhiều cơ quan), benzen, phênol, chì, asen,. Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp hoặc qua da.

Trong đó, theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95% trường hợp nhiễm độc. Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia các quá trình sinh hoá có thể đổi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn. Một số chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ lại. Chất độc cũng có thể được thải ra khỏi cơ thể qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, qua sữa.

tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ