mở đầu cho trào lưu CNXH không tưởng cận đại. Ông đã phê phán xã hội nước Anh, coi chế độ tư hữu là một chế độ bất công phi lý. Đồng thời ông đã vạch ra một chế độ tương lai về một xã hội không có tư hữu, xã hội đó là một khối kinh tế thống nhất có cơ quan tối cao của nhà nước và nghị viện tiến hành kiểm kê tất cả sản phẩm được sản xuất ra và phân phối lại sản phẩm đó khi cần thiết, toàn bộ ruộng đất là tài sản chung của mọi người. Campenlla (1568 – 1639): Ông là một nhà hoạt động thực tiễn người Italia tác phẩm nổi tiếng “Thành phố mặt trời” đã đưa ông trở thành đại biểu nổi bật của những người theo CNXH không tưởng thế kỷ 17.
Ông đã mô phỏng một xã hội hoàn toàn không có chế độ tư hữu, mọi người đều phải lao động, quá trình sản xuất phân phối được tổ chức chung thống nhất, tư tưởng cộng đồng là tư tưởng chủ đạo trong hệ thống quan niệm của ông. Đầu thế kỷ 19, cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các nước Tây Âu đã thúc đẩy lực lượng sản xuất ở các nước này phát triển. Cùng với sự phát 17 triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất là sự biến đổi sâu sắc về mặt chính trị - xã hội. Giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh về số lượng và bắt đầu có sự chuyển biến về mặt chất lượng.
Giai cấp tư sản lợi dụng cuộc cách mạng công nghiệp tăng cường bóc lột giai cấp công nhân, đời sống của họ bị bần cùng hóa cực độ. Giai cấp công nhân bắt đầu thức tỉnh và đứng dậy đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Tuy nhiên, ở thời kỳ này phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chưa phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Trong bối cảnh đó chủ nghĩa không tưởng ra đời.
Nó phản ánh sự phản kháng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây dựng một xã hội tương lai tốt đẹp hơn. Chủ nghĩa xã hội không tưởng phát triển ở Pháp và ở Anh với các đại biểu tiêu biểu như sau: Saint Simon (1760 – 1825), Charles Fourier (1772 – 1837) và Robert Owen (1771 – 1858) b. Đặc điểm học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng Những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng là người đầu tiên phê phán CNTB theo quan điểm kinh tế xuất phát từ lợi ích sản xuất chứ không phải theo quan điểm đạo đức luân lý. Họ cho rằng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất vô chính phủ, chạy theo lợi nhuận tối đa bằng mọi thủ đoạn tàn bạo nhất.
Từ đó họ khẳng định, CNTB đã kìm hãm sự phát triển sản xuất và kêu gọi xây dựng CNXH. Họ vạch rõ tính chất tạm thời trong lịch sử của CNTB, chống lại quan điểm cho rằng CNTB là vĩnh viễn. Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có những phỏng đoán về CNXH trong tương lai. Họ đã đưa ra các dự án về xã hội tương lai tốt đẹp bằng việc hình dung tạo lập ra mô hình kinh tế - xã hội trong thực tiễn bằng khả năng của họ.
Tuy nhiên, con đường của họ đề xuất để xây dựng CNXH mới có tính chất không triệt để và đầy rẫy những ảo tưởng tiểu tư sản: - CNXH không tưởng không thể vạch rõ con đường tiến lên CNXH và nó không hiểu được vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, vai trò của quần chúng nhân dân và vai trò của đấu tranh chính trị lật đổ CNTB. - Các nhà XHCN không tưởng chủ trương xây dựng xã hội mới bằng con đường không tưởng như: Tuyên truyền giáo dục, họ chờ mong vào lòng từ thiện của các nhà tư bản có lương tâm và sự giúp đỡ của nhà nước tư bản. - Các nhà xã hội không tưởng bắt đầu xây dựng CNXH từ những xí nghiệp nhỏ, lập nên các công xã trong môi trường của CNTB, theo họ những công xã sẽ làm gương cho những nơi khác nói theo. 18 + Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng của giai cấp cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
+ Đặc điểm chung là phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế chứ không theo quan điểm đạo đức, luận lý. Chỉ rõ chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của lịch sử, nhưng chưa phải là chế độ xã hội tốt đẹp nhất của loài người. Vạch rõ mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cần phải thay thế bằng xã hội mới. Tuy nhiên con đường họ đề xuất xây dựng xã hội mới có tính chất không tưởng (chỉ dừng lại ở tính ước muốn, không có cơ sở khoa học để thực hiện, đặc biệt chưa thấy vai trò của giai cấp công nhân).
Những đại biểu điển hình: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen. Kinh tế chính trị học Mác-Lênin - học thuyết kinh tế kế thừa, phát triển có phê phán kinh tế chính trị tư sản cổ điển Dòng lý thuyết kinh tế chính trị của C. Mác đã kế thừa trực tiếp những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh để phát triển lý luận kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mác xây dựng hệ thống lý luận kinh tế chính trị một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra nhũng quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ănghen (l 820- l895) cũng là người có công lao vĩ đại trong việc công bố lý luận kinh tế chính trị, một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lý luận Kinh tế chính trị của C. Ănghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong bộ Tư bản. Mác trình bày một cách khoa học và hoàn chỉnh các phạm trù cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thực chất cũng là nền kinh tế thị trường, như: hàng hóa, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích luỹ, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, cạnh tranh cùng các quy luật kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường dưới bối cảnh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Các lý luận kinh tế chính trị của C. Mác nêu trên được khái quát thành các học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích luỹ, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô … Với học thuyết giá trị thặng dư nói riêng và Bộ Tư bản nói chung C. Mác đã xây dựng cơ sở khoa học, cách mạng cho sự hình thành chủ nghĩa Mác nói chung và nền tảng tư tưởng cho giai cấp công nhân. Học thuyết giá trị thặng dư của C.
Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học luận chứng cho vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ănghen qua đời, V. Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C. Mác và có nhiều đóng góp khoa học đặc biệt quan trọng.
Trong đó nổi bật là kết quả nghiên cứu, chỉ ra những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, dòng lý thuyết kinh tế chính trị này được định danh với tên gọi kinh tế chính trị Mác - Lê nin. Lê nin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển kinh tế chính trị Mác - Lê nin cho đến ngày nay. Cùng với lý luận của các Đảng Cộng sản, hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nhà kinh tế nghiên cứu kinh tế chính trị theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị của C.
Mác với nhiều công trình được công bố trên khắp thế giới. Các công trình nghiên cứu đó được xếp vào nhánh Kinh tế chính trị Mác xít (Maxist - những người theo chủ nghĩa Mác). Một số trường phái kinh tế chính trị học tư sản hiện đại: 1. Trường phái “Tân cổ điển” a.
Hoàn cảnh ra đời các học thuyết của trường phái “tân cổ điển” Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX: chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, những khó khăn về kinh tế và những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản tăng lên gay gắt (khủng hoảng kinh tế chu kì bắt đầu từ 1825) nhiều hiện tượng kinh tế và mâu thuẫn kinh tế mới xuất hiện đòi hỏi phải có sự phân tích kinh tế mới. Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người vì thế nó trở thành đối tượng phê phán mạnh mẽ của các nhà kinh tế học tư sản. Với bản chất cách mạng và khoa học, học thuyết kinh tế của Marx chỉ ra xu hướng vận động tất yếu của xã hội loài người. Vì vậy, nó trở thành đối tượng phê phán mạnh mẽ của các trường phái kinh tế tư sản (hay nói cách khác - Giai cấp vô sản đã có vũ khí tư tưởng sắc bén của mình là chủ nghĩa Marx).
Kinh tế tư sản cổ điển tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản và khắc phục những khó khăn về kinh tế, đòi hỏi phải có hình thức mới thay thế, phái tư sản cổ điển tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ CNTB đòi hỏi phải có những học thuyết mới thay thế, từ đó có nhiều trường phái kinh tế chính trị xuất hiện, trong đó trường phái “Tân cổ điển” (hay cổ điểm mới) đóng vai trò rất quan trọng. Đặc điểm phương pháp luận Dựa vào tâm lí chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế (Ủng hộ thuyết giá trị chủ quan: theo đó cùng một hàng hóa, với người này cần 20 hơn hay ích lợi nhiều thì giá trị lớn và ngược lại, người không cần hay ích lợi ít thì giá trị thấp). Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị kinh tế riêng biệt (chủ trương từ sự phân tích kinh tế trong các xí nghiệp để rút ra những kết luận chung cho toàn xã hội), được gọi là phương pháp phân tích vi mô.