Kế Toán Quản Trị. 181 CHUONG 5 PHAN TiCH BIEN BONG CHI PHi VA DOANH THU “ MUC TIEG HOC TAP CUA CHUONG > Sau khi nghiên cứu Chương này, học viên có thể: + Hiểu được bản chất của các chỉ phí trong doanh nghiệp. *® Nắm được bản chất của biến động chi phí; các mô hình và phương pháp phân tích biến động chỉ phi trong doanh nghiệp. * Nắm được phương pháp phân tích biến động doanh về chi phi và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
J 182 Kế Toán Quản Trị Sau khi lập dự toán sản xuất kinh doanh, định kỳ nhân viên kế toán quản trị phải đánh giá kết quả thực hiện so với dự toán, để kịp thời phát hiện những hoạt động không đúng như dự toán, xác định nguyên nhân nhằm kiến nghị cho quản lý biện pháp điều chỉnh thích hợp. Quá trình phân tích biến động chính là quá trình cung cấp thông tìn phản hồi, nhằm giúp quản lý kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh, kịp thời chấn chỉnh những hoạt động chưa tốt hoặc kịp thời điều chỉnh những tiêu chuẩn xa rời thực tế.1 KHÁI NIỆM BIẾN ĐỘNG - Biến động là khoản chênh lệch giữa kết quả thực tế với kết quả kỳ vọng - Phân tích biến động là phân tích tổng chênh lệch giữa kết quả thực hiện với tiêu chuẩn. Khi kết quả thực hiện tốt hơn kết quả kỳ vọng, biến động tốt (T), ngược lại, kết quả thực hiện kém hơn kết quả kỳ vọng, biến động không tốt (K).1 Biến động chỉ phí nguyên liệu trực tiếp Phân tích biến động chí phí nguyên liệu trực tiếp là thực hiện so sánh giữa chỉ phí nguyên liệu trực tiếp thực hiện với chỉ phí nguyên liệu trực tiếp tiêu chuẩn, và xác định các nguyên nhân biến động trên hai mặt giá và lượng đã tác động như thế nào đến biến động chung. Các nguyên nhân biến động được xác định theo các công thức sau: Biếnđộg _— Lugng , Biá - Giá về giá ~ thực tế thực tế định mức Biến động _ Gid.
Lượng _ Lượng về lượng —” định mức thực !Ế định mức Kết quả biến động giữa thực tế với tiêu chuẩn được đánh giá như sau: - Kết quả dương, thực tế > tiêu chuẩn, nói chung đánh giá không tốt vì lúc này chỉ phí nguyên liệu trực tiếp thực tế cao hơn tiêu chuẩn Kế Toán Quần Trị 184 - Kết quả âm, thực tế < tiêu chuẩn, nói chung đánh giá tốt nếu chất lượng của sản phẩm được bảo đầm. - Kết quả = 0, thực tế = tiêu chuẩn, bảo đảm thực hiện đúng định mức. Biến động giá nguyên liệu phản ảnh chênh lệch giữa giá thực tế đã trả với giá đáng lẽ phải trả Biến động lượng nguyên liệu phản ảnh chênh lệch giữa chỉ phí tiêu chuẩn của lượng nguyên liệu thực tế sử dụng, với chỉ phí tiêu chuẩn của lượng nguyên liệu đáng lẽ phải sử đụng. Thí dụ: Định mức lượng nguyên liệu trực tiếp của sản phẩm Y là 10kg với giá định mức 10 ng.
Trong tháng 4/2006, doanh nghiệp sản xuất được 1.000 sản phẩm Ÿ, đã sứ dụng 1Y.700 kg nguyên liệu và chi phí nguyên liệu trực tiếp là 98:600ng. Phân tích biến động chi phí nguyên liệu trực tiếp: - Biến động chí phí nguyên liệu trực tiếp: Chì phí Don vi: 1000d hi phí nguyên liệu trực tiếp của 1000 sản phẩm Y tính theo chỉ phí tiêu chuẩn (1000 sp x 10 kg x 10 ng.000 Chỉ phí nguyên liệu trực tiếp thực tế của 1000 sân phẩm Y 98 600 Biến động chí phí nguyên liệu trực tiếp -1.400 (T) Biến động tốt vì giảm được chi phí. - Biến động giá: là chênh lệch giữa chi phí thực tế của 11.700 kg nguyên liệu, với chỉ phí của 11.700 kg nguyên liệu tính theo giá định mức Chí phí Đơn vị: 1000đ Chì phí của 11.700 kg nguyên liệu theo giá định mức 117.000 Chi phí thực tế của 11.700 kg nguyên liệu 98.800 Biến động giá của chi phí nguyên liệu trực tiếp - 18.000 kg ¡ Lượng nguyện liệu thực tế đã sử dụng | 11700kg. Biến động mức sử dụng _— +t700 kg (Ó- | Giá định mức của 1 kg nguyên liệu Ô x10ngđ ¡ | Biến động lượng của chỉ ¡phí nguyên liệu trực tiếp.d — : Biến động lượng không tốt vì nguyên liệu thực tế sử dụng cao hơn định mức.
- Tổng hợp biến động giá với biến động lượng của chỉ phí nguyên liệu trực tiếp: Biến động Đơn vị: 1000đ Biến động giá 18.400 (T) Biến động sử dụng 17.000 (K) Tổng biến động 1.400 (T) Biến động chí phí nguyên liệu trực tiếp phát sinh do giá nguyên liệu giảm làm giảm được 18.đ, nhưng biến động sử dụng nguyên liệu lại tăng 17. Do vậy, khi tổng hợp ảnh hưởng của hai nhân tố này thì chi phí nguyên liệu trực tiếp chỉ giảm được có 1.1 Biến động bết cấu va biến động lượng của chỉ phi nguyén liệu trực tiếp trong trường hợp có sử dụng nhiều loại nguyên liệu a. Khái niệm Khi một sản phẩm cần trên hai loại nguyên liệu để sản xuất, thì thường phải tiến hành phân tích biến động sử dụng nguyên liệu thành biến động cơ cấu nguyên liệu với biến động năng suất nguyên liệu. Biến động cơ cấu nguyên liệu chính là chênh lệch giữa tổng lượng thực tế sử dụng trong cơ cấu tiêu chuẩn, với các lượng Kế Toán Quần Trị 185 thực tế trong cơ cấu thực tế, tính theo giá tiêu chuẩn.
Đây là thước đo phản ảnh liệu cơ cấu thực tế rẻ hơn hay mắc hơn cơ cấu tiêu chuẩn Biến động năng suất nguyên liệu chính là chênh lệch giữa lượng đầu vào tiêu chuẩn đối với kết quả thực tế, với tổng lượng đầu vào thực tế (theo cơ cấu tiêu chuẩn), tính theo giá tiêu chuẩn. Khi nào tính biến động cơ cấu uà biến động năng suất nguyên liệu Biến động cơ cấu và biến động năng suất nguyên liệu chỉ nên tính trong những tình huống sau: (a) Khi các tỷ lệ của nguyên liệu trong cơ cấu có thể thay đối được và có thể kiểm soát được (b) Khi biến động lượng sử dụng của từng loại nguyên liệu bị hạn chế bởi khả năng thay đối của cơ cấu, thì biến động năng suất kết hợp của tất cả các loại nguyên liệu với nhau sẽ hữu dung hon, Trong trường hợp các loại nguyên liệu sử dụng trong cơ cấu là những loại cụ thể, thì hoàn toàn không nên tính biến động cơ cấu. Thí dụ, để sản xuất một chiếc ghế nệm sẽ cần gỗ, vải bọc, nệm nhồi, keo dán, đỉnh. Những nguyên liệu này là những yếu tế cấu thành ghế hoàn toàn tách biệt với nhau, không thể nghĩ tới việc kiểm soát các tỷ lệ sử dụng của từng loại nguyên liệu trong thành phẩm, thay vào đó phải thực hiện kiếm soát từng loại nguyên liệu riêng biệt với nhau.
Thí dụ: Chỉ phí nguyên liệu tiêu chuẩn của sđn phẩm M2 gôm- Nguyên liệu nụ. Nguyên liệu X 3 kg với giá 2 ng.đ / kg 6 Nguyễn liệu Y 5 kg với giá 3,6 ng.đ / kg 18 24 Trong tháng 2 đã sử dụng 2.000 kg nguyên liệu X, trị giá 4.400 kg nguyên liệu Y, trị giá 9.đ để sản xuất được 500 sp M2. 186 Kế Toán Quản Trị Phân tích biến động: (a) Biến động giá nguyên liệu: 2.000 kq nguyên liệu X theo giá tiêu chuẩn (x 2 ng.000 kg nguyên liệu X theo giá thực tế 4,100 nad Biến động giá nguyên liệu X 100 ng.400 kg nguyên liệu Y theo giá tiêu chuẩn (x 3,ô ng.400 kg nguyên liệu Y theo giá thực tế 8600 ñqđ Biến động giá nguyên liệu Y 960 ng.d {K) (b) Biến động cơ cấu: Tổng lượng sử dụng (2.400 kg Cơ cấu tiêu chuẩn tính theo lượng sử dụng thực tế: - 3/8X 1.400 kg Lượng thực tế | lượng thực tế Giá tính theo cơ cấu | tính theo co Biến | tiều chuẩn Biến tiêu chuẩn cấu thực tế động của 1 kg động (kg) (kg) (kg) (ng.400 - 560 (e) Biến động năng suất: - Tính chưng: | Mỗi sản phẩm | 3 kg nguyên liệu X, thành tiền: 6 nod M2 cẩn: 5kq nguyên liệu Y, thành tiển: 18 ng d 8 kg 24 ng.d Năng suất tiêu chuẩn của 4.400 kg nguyên tiệu (: 8kq) 550 sp Năng suất thực tế của 4.400 ky nguyén liéu 500 sp Biến động năng suất tính bằng sản phẩm 50 sp (K) x giá tiêu chuẩn của một sản phẩm x 24 nq.đ | Biến động năng suất tính thành tiền 1.2 Bién déng giá nguyên liệu trong trường hợp có tôn kho đầu kỳ uà tôn bho cuốt bỳ Vấn đề: Giả sử giá định mức của nguyên liệu P là 3 ng. Trong tháng 6 doanh nghiệp mua 6.
Sau đó, doanh nghiệp đưa 5.000 m vào sản xuất. Như vậy, nguyên liệu tổn kho cuối tháng 6 sẽ tăng 1. Vậy, biến động giá nguyên liệu sẽ được tính dựa trên lượng mua vào (6.000 m) hay lượng sử đụng (5.000 m)? Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào cách đánh giá nguyên liệu tổn kho cuối kỳ: (a) Nếu nguyên liệu được đánh giá theo chỉ phí chuẩn (3ng.đ/m), biến động giá sẽ được tính theo lượng nguyên liệu mua vào trong kỳ. (b) Nếu nguyên liệu được đánh giá theo chi phí thực tế (FIFO) (thí dụ, 3,1 ng.đ), biến động giá được tính dựa trên lượng nguyên liệu đưa vào sử dụng trong kỳ.
Trên thực tế, doanh nghiệp thường áp dụng hệ thống tính chỉ phí tiêu chuẩn toàn bộ, nên biến động giá nguyên liệu thường được tính dựa trén lượng mua vào trong kỳ. Cách làm này có hai ưu điểm: - Giúp nhà quản trị nhận biết biến động sớm, từ đó có thể có những hành động sửa sai nếu cần thiết - Tất cả hàng tồn kho đều được đánh giá thống nhất theo giá định mức. Điều này về mặt quản lý sẽ đơn giản hơn so với đánh giá theo các phương pháp FIEO, LIEO hay bình quân trọng số. Mặt khác, cũng đồng nghĩa tất cả các lần xuất kho đầu 188 Kế Toán Quản Trị được đánh giá theo giá định mức.
Nếu hàng tổn kho được đánh giá theo giá thực tế thì nhất thiết mỗi lần xuất kho đều phải tính biến động giá riêng. Đây là một công việc rất mất thời gìan, nhất là khi thực hiện thú công. Biến động giá của vấn dé trên được tính như sau: Đơn vị: 1000đ 6.000 m nguyên liệu theo giá định mức (x 3 ng.000 m nguyên liệu theo giá thực tế (x 3,1 ng.600 | Biến động giá - B00 (K) Tuy nhiên, cách làm này cũng có một số nhược điểm: - Theo cách tính này, doanh thu sẽ tương xứng với chi phí tiêu chuẩn của nguyên liệu sử dụng, cộng với biến động dựa trên nguyên liệu mua vào, nhưng không tương xứng với giá vốn hàng bán thực tế. Điều này không thỏa mãn nguyên tắc tương xứng của kế toán.