CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VÈ LUẬT QUÓC TẾ Khi các quốc gia hình thành, các quan hệ liên quốc gia cũng đồng thời xuất hiện. Những quan hệ này tồn tại song song với các quan hệ phát sinh trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia. Các quốc gia sử dụng công cụ pháp luật để điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ của mình nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị cũng như đảm bảo sự ổn định của trật tự xã hội. Tổng thể các nguyên tắc và quy phạm này tạo thành hệ thống pháp luật quốc gia.
Trong khi đó, quan hệ giữa các quốc gia, với đặc trưng là quan hệ giữa những thực thể có chủ quyền, cần được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm có bản chất khảc với các quy phạm pháp luật quốc gia. Hệ thống các quy phạm này được gọi là hệ thống pháp luật quốc tế. Để nắm bắt những nét chung nhất về hệ thống pháp luật quốc tế, trước hết cần trả lời câu hỏi luật quốc tế là gì (I) và luật quốc tế có những đặc trưng nổi bật nào (II). Những nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế ngày nay là kết quả của nhiều thế kỷ hình thành, kế thừa và phát triển (III).
Được xây dựng và phát triển dựa trên một số nguyên tắc mang tính cơ bản (V), luật quốc tế có quan hệ tương tác mạnh mẽ với luật quốc gia (IV). KHÁI NIỆM LUẬT QUÓC TÉ Có nhiều cách để định nghĩa luật quốc tế (1.1) nhưng nhìn chung, thuật ngữ «luật quốc tế» hàm ý luật giữa các quốc gia (1. c ầ n chú ý rằng thuật ngữ «công pháp quôc tế» cũng thường được dùng để chỉ luật quốc tế, nhăm phân biệt luật này với «tư pháp quốc tế» (1. Luật quốc tế được cấu thành bởi những «hạt nhân», đó chính là các quy phạm pháp luật quốc tể (1.
Định nghĩa luật quốc tế Luật quốc tế có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào thời điểm, bối cảnh định nghĩa cũng như quan điểm của tác giả định nghĩa. Nhìn chung, việc xây dựng khái niệm luật quốc tế thường được tiếp cận từ phưong diện đối tượng điều chỉnh, quy trình xây dựng, chủ thể xây dựng và tiêu chuẩn để công nhận quy phạm luật quốc tế. Khi xem xét tranh chấp Lotus giữa Pháp và Thổ N hĩ Kỳ. Tòa Công lý thường trực quốc tế đưa ra định nghĩa sau vê luật quốc tế: «Luật quốc tế điều chinh quan hệ giữa các quốc gia độc lập.
Các quy định của luật có giả trị bắt buộc đổi với các quốc gia bởi chúng bẳt nguồn từ chỉnh ý chí của họ thể hiện trong các công ước (điều ước) hoặc qua các thông lệ được công nhận một cách rộng rãi, thể hiện những quy tắc pháp lý thành lập nhằm điều chinh quan hệ giữa những cộng đồng độc lập cùng tồn tại với nhau hoặc nhằm đạt đến những mục đích chung.' Định nghĩa trên có ý nghĩa quan trọng khi ra đời (năm 1927) và ngày nay vẫn còn một số giá trị nhất định. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong rất nhiều định nghĩa khác nhau về luật quốc tế. Căn cứ trên đối tượng điều chỉnh của luật quôc tê, luật quốc tế được định nghĩa «. bao gồm các quy định và nguyên tắc có tỉnh áp dụng chung nhằm điều chinh các hành vi của quôc gia và tổ chức quốc tế cũng như mồi quan hệ giữa chúng với nhau (ỉnter se), cũng như điều chỉnh một số quan hệ của họ với các cả nhăn hoặc pháp nhân»} Tưong tự, một sô học giả luật quôc tê định nghĩa luật quốc tế là «một ngành luật tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh chù yếu các quan hệ chinh 1 Lotus (Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ), PCJ Judgment, 1927.com/pcij/eng/decisions/1927.
2 Theo bàn Trình bày (lần thứ ba) về luật liên quan đến quan hệ đối ngoại của Học viện Luật Hoa Kỳ. TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN THƯ VIỆN 17 V M ổr ¿ m ô - o l trị hoặc các khỉa cạnh chỉnh trị của các quan hệ khác giữa các quôc gia với nhau cũng như giữa các quốc gia và các chủ thế phái sinh và đặc biệt khác của luật quốc tể»} Luật quốc tế còn có thể được định nghĩa một cách đơn giản là tập hợp các quy tắc điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác34 hoặc luật áp dụng cho xã hội quốc tế.5 Nhẩn mạnh quy trình xây dựng, chủ thể xây dựng, đối tượng điều chỉnh và tiêu chuẩn để công nhận quy phạm luật quốc tế, một số học giả định nghĩa luật quốc tế là «hệ thong các nguyên tẳc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tể thỏa thuận xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các quổc gia và các chủ thể khác trong mọi lĩnh vực cùa đời sống xã hội».67 Một trong những định nghĩa có thể coi là phản ánh đầy đủ nhất bản chất và những đặc trưng cơ bản của luật quốc tế, giúp phân biệt luật quốc tế với luật quốc gia và hiện được sử dụng rộng rãi trong các giáo trình luật quốc tế của Việt Nam thuộc về giáo sư G. Tunkin, theo đó luật quốc tế là “Tông thể những quy phạm được tạo ra bởi thỏa thuận giữa những quôc gia thuộc các hệ thống xã hội khác nhau, phản ánh ý chỉ hòa hợp của các quốc gia và có đặc tỉnh dân chủ chung, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong quá trình đẩu tranh và hợp tác theo hướng đảm bảo hòa bình và cùng tồn tại hòa bình, tự do và sự độc lập của các dân tộc, và trong trường hợp cân thỉêt được đảm 3 Nguyễn Hồng Thao, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. Giáo dục, 1999, tr.
4 Raymond Guillien & Jean Vincent, Từ vựng thuật ngữ pháp lý (Lexique des termes juridiques), Dalloz, in lần thứ 13, 2001,. 5 Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet, Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr. 6 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, 2007,7 tr.
, t 18 - bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế một cách riêng lẻ hoặc tập thể bởi các quốc g ia ’’.1 Nhìn dưới góc độ pháp lý, một định nghĩa luật quốc tế nói chung cần thể hiện những vấn đề cơ bản như: chủ thể và đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế, phương thức hình thành các nguyên tăc và quy phạm luật quôc tê, phương thức thực thi và bảo đảm thi hành các nguyên tắc và quy phạm này. Dựa trên những tiêu chí này, định nghĩa của giáo sư Tunkin là tương đôi thích hợp, mặc dù còn chưa đầy đủ ở chỗ chỉ đề cập đến quốc gia là chủ thể của luật quốc tế. Như vậy, ta có thể đi đến kết luận luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do các chủ thể của luật quôc tê (bao gồm quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tê) thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyên và bình đảng nhăm điêu chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thề luật quôc tê với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sổng quốc tế và được đảm bảo thực hiện bởi chỉnh các chủ thể đó. Thuật ngữ «luật quốc tế» Vê mặt lịch sử, thuật ngữ «luật quốc tế» được sử dụng ngày naỵ có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Anh «international ỉaw» xuât hiện năm 1780 trong cuôn sách của Bentham Giới thiệu các nguyên tẩc của đạo đức và pháp luật.
Ý nghĩa của từ này là «luật giữa các dân tộc» còn được thể hiện qua những thuật ngữ tương tự được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn, droit International (tiếng Pháp), derecho internacional (tiếng Tây Ban Nha), Meotcòvnapoốìioe npatso (tiếng Nga). Thuật ngữ của Bentham thực tế chính là thuật ngữ có nguồn gốc latin jus ínter gentes được Vitoria dùng vào thế kỷ XVI và được nhắc lại bởi luật gia người Anh Zouch vào năm 1650, sau này đã được quan chưởng ấn ( Chancellor) Aguesseau dịch vào đầu thế kỷ7 7 G. Tunkin, Lý thuyết về luật quốc tế (Theory o f International Law ) (bản dịch và lời giới thiệu cùa William E Butler), London 1974 tr.
19 XVII là «luật giữa các dân tộc». Vào năm 1795, học giả người Đức Kant đã thay thế từ «dân tộc» bằng «quốc gia» trong thuật ngữ «luật quốc tế». Từ đó, «luật giữa các dân tộc» được hiểu như luật điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, hay luật liên quốc gia.8 Ý nghĩa này thể hiện trong thuật ngữ S3 |ỉõ\ 'ìíz W- được sử dụng ngày nay trong tiếng Trung Quốc (H (quo): quốc gia, đất nước; PÊF (ji): giữa (các sự vật với nhau); ÌẾ # (fa lu): pháp luật) và «luật quốc tế» ở tiếng Việt. Cần thêm rằng, trước khi Bentham giới thiệu thuật ngữ luật quốc tế, một thuật ngữ khác, Jus gentium (luật của các dân tộc) cũng được sử dụng và thậm chí vẫn được đề cập cho đến ngày nay.
Thậm chí, thuật ngữ jus gentium còn được một số người hiểu là đồng nghĩa với jus inter gentes hay luật quốc tế. Tuy nhiên, nội hàm 'của hai thuật ngữ trên không trùng hợp, bởi lẽ ju s inter gentes được hiểu là «luật giữa các dân tộc» trong khi ju s gentium thể hiện ý « luật chung của các dân tộc ». Phân biệt «công pháp quốc tế» và «tư pháp quốc tế» Từ những năm đầu thế kỷ XIX, tính từ « công» {public) bắt đầu được thêm vào trước cụm từ « luật quốc tế » để phân biệt giữa hệ thống luật quốc tế hay còn được gọi là « công pháp quốc tế » với « tư pháp quốc tê »,9 Việc đưa từ « công » hay « công pháp » trước từ « quốc tế » nhằm mục đích nhấn mạnh sự khác biệt giữa « công pháp quốc tế » và « tư pháp quốc tế ». Điểm khác biệt thứ nhất và cơ bản giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế là đối tượng điều chỉnh.
Công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ (chủ yêu) giữa các quôc gia, trong khi đó tư pháp quôc tế điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân. Quan hệ điêu chỉnh bởi công pháp quôc tê mang tính chât « công » trong khi các quan hệ điêu chỉnh bởi tư pháp quôc tê lại mang tính chât 8 Nguyễn Quốc Định, Patrick Daillier, Alain Pellet, Công pháp quốc tế (Droit international public), LGDJ, Paris, 2002, tr. 9 Thuật ngữ « tư pháp quốc tế » được dùng lần đầu năm 1843 tại Pháp bời Foelix trong cuốn Điều ước về tư pháp quốc tế.