Phân thứ hai _ HE THONG TRUYEN LUC, DIEU KHIEN VA TREO DO, DI DONG 177 Chương 9. HE THONG TRUYENLUC 9. Nhiệm vụ, phân loại 9. Nhiệm vụ Trên ôtô, máy kéo, động cơ đất trong sản sinh ra mô men quay.
Mô men quay nảy được truyền qua côn nối, hộp số, truyền động các đăng, cầu chủ động đến các bánh xe chủ động, nhờ đó ôtô, máy kéo chuyển động. Như vậy hệ thống truyền lực có nhiệm vụ truyền rnô men quay từ động cơ đến các bánh xe chủ động, cũng như thay đỗi mô men quay cho phù hợp với lực cản bên ngoài, Ngoài ra, nhờ có hệ thống truyền lực, ôtô- máy kéo có thể khởi hành một cách êm dịu và dừng máy lâu dai khi động cơ vẫn hoạt động cũng như thay đôi tốc độ, hưởng chuyển động của nó. Sự cần thiết phải có hệ thống truyền lực: Do số vòng quay của trục cơ động cơ tương đỗi lớn so với số vòng quay của bánh xe chủ động ôtô, máy kéo, ngay cả khi xe chuyển động với tốc độ cao. Mặt khác, do lực cân chuyển động của ôtô, máy kéo thay đỗi liên tục trong phạm vi tương đỗi rộng.
Để phù hợp với yêu cầu đó, mô men quay phải biến đổi được khi dẫn truyền bánh xe chủ động, thắng được lực cản của bánh xe và sử dụng tối đa công suất của động cơ với chỉ phí nhiên liệu nhỏ nhất. Phân loại ~ Căn cứ vào nguyên tắc hoạt động của hệ thống truyền lực bao gồm: + Truyền lực cơ khí: Sử dụng các bộ truyền cơ khí để truyền dẫn mô men quay từ động cơ đến các bánh xe chủ động. + Truyền lực thủy cơ: Hệ thống truyền lực kết hợp giữa truyền lực cơ khí và truyền lực thủy lực. + Truyền lực điện cơ: Loại này thì năng lượng cơ khí của động cơ đốt trong được chuyển đổi thành năng lượng điện nhờ máy phát điện, sau đó năng lượng điện dùng chạy động cơ điện trong các bộ truyền lực.
- Căn cứ vào hệ thống đi động ôtô, máy kéo có các dạng của hệ thông truyền lực như sau: + Hệ thống truyền lực của ôtô, máy kéo bánh. + Hệ thống truyền lực của máy kéo xích. Sơ đã cấu tạo chung hệ thắng truyền lực trên ôtô, máy kéo 9. Sơ đã hệ thông truyền lực của ôtô, mây kéo banh Hệ thống truyền lực của ôtô, máy kéo bánh (hình 9.1), bao gồm những bộ phận chính sau; 178 Côn (2).
Sợ đỗ hệ thống truyền lực của ôtô, máy kéo banh 1, Động cơ; 2. Truyền động các đăng; 5. Truyén lực chính; 6. Hộp vi sai; 7.
Bán trục chủ động; 8. Bảnh xe chủ động, 9. Sơ đồ hệ thông truyền lực máy kéo xích Ở máy kéo xích, hệ thông truyền lực thường gồm các bộ phận chính sau: Côn nối (2), truyền động hộp số (3), truyền lực chính (4), cơ cấu lái vòng (5), truyền lực chót (6), bánh sao chủ động (7) và xích chuyển động (8) (hình 9. 5 (ee 1 3 TT À \ \| ; Ee, Hinh 9.
So dé hé théng truyén ive may kéo xich 1. Truyền lực chính; 5. Truyền lực chót; 7. Bánh sao chủ động; 8.
Xích Trong trường hợp ôtô, máy kéo chuyển động én định, mô men quay trên trục bánh xe, bánh sao chủ động được tính theo công thức: M, =M, i, My (9.1) Trong đó: Mẹ; - Mô men quay của trục cơ; ïr - Tỉ số truyền của hệ thông truyền lực; ay - Hiệu suất của hệ thông truyền lực. Nhiệm vụ, yêu cầu uà phân loại a) Nhiệm vụ Trên ôtô, máy kéo côn nối có nhiệm vụ truyền và ngắt mô men quay từ động cơ đến các bộ phận khác của hệ thống truyền lực và báo vệ cho các bộ phận khác của hệ thống truyền lực không bị quá tải. Côn nội thường đặt giữa động cơ và hộp số. b)Yêu câu Côn nối của ôtô, máy kéo cần đạt các yêu cầu sau: 4 - Đảm bảo truyền được hoàn toàn mô men quay tối đa của động cơ trong bất kỳ điều kiện làm việc nào của ôtô, máy kéo; - Nỗi truyền động êm dịu, truyền từ từ mô men quay từ trục khuỷu động cơ với trục sơ cấp của hộp số khi xe bắt đầu lăn bánh và sau khi sang số và duy trì truyền động trong suốt thời gian xe chạy bình thường; ~ Mở côn dứt khoát, nhanh chóng; - Mô men quán tính của các chỉ tiết thụ động trong côn phải nhỏ; ~ Các bề mặt ma sát phải thoát nhiệt tốt.
€) Phân loại Theo phương pháp truyền mô men quay người ta chia ra: Côn ma sát, côn thuỷ lực và côn điện từ. Côn ma sát là loại côn mà mô men quay từ động cơ truyền đến trục sơ cấp của hộp số nhờ các bề mặt ma sát. Côn thuỷ lực mô men quay được truyền qua chất lỏng. Côn điện từ về cấu tạo và nguyên lý làm việc giống với côn ma sát, chỉ khác ở chỗ trong côn điện từ sử dụng lực điện từ để đây đĩa ép thay cho lực lò xo ở côn ma sát.
Ở côn ma sát tuỳ theo cấu tạo bề mặt ma sát ngudi ta chia côn ma sát ra thành đạng đĩa và dạng trống. Trong đó côn ma sát đạng đĩa được sử dụng rộng rãi trên ô tô, máy kéo. Loại côn này được phân ra hai loại là côn thường xuyên đóng và côn không thường xuyên đóng. Ở côn ma sát, tuỳ theo phương pháp điều khiển người ta còn chia ra côn được điều khiến cưỡng bức và côn được điều khiển tự động.
Ở côn điều khiển cưỡng bức, việc đóng ngắt côn được thực hiện nhờ người điều khiển qua hệ thống dẫn động cơ học, còn ở côn tự động thì việc đóng và ngắt côn nhờ sự thay đổi của lực ly tâm theo sự thay đổi số vòng quay của động cơ.2, Cân ma sút thường đúng aj Cdu tạo Côn thường đóng là loại cồn mà các bề mặt ma sát của phần chủ động và bị động luôn được ép sát với nhau trừ thời gian ngất do người lái tác động lên bản đạp côn. Loại côn này thường dùng rộng rãi trên các loại ô tô, máy kéo. 180 Côn ma sát thường đóng gồm các bộ phận chính sau: Phần chủ động, phần thụ động và cơ cầu điều khiển. Phan chi động gồm có bánh đà (2), bề mặt sau của nó được gia công phẳng để làm bề mặt làm việc của côn (đĩa chủ động), vỏ côn, đĩa ép (4).
Bánh đà được lắp chặt vào đầu trục khuyu dong cơ bang then hoặc bằng bu lông, Phần thụ động gồm trục thụ động (8) (trục sơ cấp của hộp số), đĩa bị động (3) có dạng then hoa được lắp vào đầu then hoa của trục bị động (8). Vì thế, đĩa bị động có thể trượt đọc trục và có thê lai trục (8) quay theo khi đĩa bị động được ép chặt với bề mặt bánh đà. Hai mặt của đĩa bị động làm bằng bột amiăng ép với dây đông, vì vậy vừa truyền dẫn nhiệt tốt vừa có hệ số ma sát và độ bám lớn. Cấu tạo của côn thường xuyên đóng (hình 9.3a), cầu tạo của đĩa bị động (hình 9.
Sơ đồ cấu tạo côn ma sát thường xuyên đóng 1. Trục khuỷu động cơ; 2. Trục bị động (trục sơ cấp hộp sô); 9. Bàn đạp côn.
b) Nguyên lý làm việc Khi chưa tác động lên bàn đạp côn, các lò xo (10) đây đĩa ép (4) sang trái để ép chặt bề mặt làm việc của đĩa ép với các bề mặt của đĩa bị động (3) và bề mặt bánh đà (đĩa chủ động) lại với nhau, nhờ đó mô mẹn quay của động cơ được truyền từ trục khuỷu qua bề mặt ma sát (bảnh đà - đĩa bị động) đến trục bị động (8). Chính vì vậy loại côn này được gọi là côn thường xuyên đóng. Khi tác động lên bàn đạp côn, qua hệ thông tay đòn đây ö bị trượt (7) chạy sang trái tỳ vào một đầu của đòn bẩy (5) làm cho đầu kia của đòn bẩy (5) kéo chốt (6) sang phải, kết quả làm đĩa ép (4) được kéo ra và các lò xo (10) bị ép lại dẫn đến các bể mặt ma sát rời nhau, mô men quay không được truyền từ động cơ đến trục bị động (8), côn ngắt. 181 Côn thường xuyên đóng có thể có một, hai hoặc nhiễu đĩa bị động, côn nhiều đĩa cho phép tăng được diện tích bể mặt ma sát nên tăng khả năng tải và đóng, mở côn êm dịu.
Tuy nhiênở loại côn nhiều đĩa để ngắt được hoàn toàn côn cần điều chỉnh đúng khe hở giữa các đĩa chủ động và bị động. Côn ma sút không thường đúng Côn không thường đóng có thể có hai trạng thái đóng hoặc ngất tùy thuộc vào vị trí của tay điều khiển côn, Loại côn này thưởng được đùng ở một số máy kéo. Cầu tạo của côn không thường đóng được mô tả ở hình 9. Sơ đồ cấu tạo côn ma sát không thường xuyên đóng 1, Đĩa chủ động; 2.
Trục bị động; 4. Ông trượt, 6, Đòn dan héi; 7. Càng chữ thập; 10. Tay điều khiển Đĩa chủ động (1) được nỗi với bánh da bang các bu lông hoặc răng khía.
Khi tác động vào tay điều khiển côn (10) để ống trượt (5) dịch chuyển sang trái, đòn đàn hồi (6) chuyển địch tác động lên đuôi của đòn ép (7) làm cho đòn này quay quanh chết (8), đầu kia của nó ép lên đĩa ép (4) làm cho các bể mặt làm việc ép chặt với nhau, côn đóng. Để ngất côn, người lái tác động vào tay điều khiển (10) theo chiều ngược lại, ống trượt (5) dịch chuyên Sang phải. Đòn đàn hồi (6) kéo đuôi của đòn ép (7) làm cho đòn này quay quanh chết (8), dau đòn (7) rời khỏi đĩa ép, giữa các bề mặt làm việc của côn có khe hở, côn ngắt, Đối với côn ma sát, để đảm bảo việc truyền mô men quay hoàn toàn từ động cơ đến hộp số cũng như để bảo vệ cho các bộ phận của hệ thống truyền lực khỏi bị quả tải, người ta tính toán thiết kế sao cho côn có hệ số dự trữ với giá trị được tính theo công thức (9.2) Trong đó: Mu; - Mô men ma sát của côn; M, - Mô men quay của động cơ; Thông thường, đối ôtô vận tải và máy kéo hệ số dự trữ 8=1l5+3.4, Côn tự động Côn tự động có thể thực hiện các thao tác đóng, mở côn một cách tự động theo yêu cầu thực tế mà không cần tác động của người lái lên nó. Vì thế không có bàn đạp côn giúp người lái đỡ căng thẳng, mệt nhọc khi vận hành xe.
Côn tự động được sử dụng sớm nhất là 182 côn ly tâm.