BAO DUONG HE THONG LAM MAT 5. Nhiệm vụ, yêu cầu và phân loại hệ thống làm mát động cơ 3. Nhiệm vụ Khi động cơ làm việc, những bộ phận tiếp xúc với khí cháy sẽ nóng lên. Nhigt độ chúng đôi khi khá cao, tới (400- 500)" (Nắp xy lanh, đỉnh piston, xu pap xả, đầu vòi phun,.
Để đảm bảo độ bền của vật liệu chế tạo ra các chỉ tiết máy ấy, để đảm bảo độ nhớt của dầu bôi trơn ở giá trị có lợi, để giữ tốt cho nhiệt đội cháy của nhiên liệu trong máy mà không để xảy ra sự ngưng đọng của hơi nước trong xy lanh. Ngườita phải làm mát động cơ. Nếu nhiệt độ làm việc của động cơ cao quá làm cho điều kiện bôi trơn chỉ tiết kém, ma sát mài mòn tăng bó, kẹt một số chỉ tiết có khe hở lắp ghép nhỏ. Nếu nhiệt độ làm việc của động cơ thấp quá nhiên liệu bốc hơi kém khó cháy hết, nhiên liẹu lọt xuống các te làm cháy dầu bôi trơn, muội nhiều, mài mòn tăng, độ ăn mòn tăng.
~ Hệ thống làm mát có nhiệm vụ: Khi động cơ nóng lên, hệ thống làm mát sẽ truyền nhiệt ra không khí chung quanh để làm mát động cơ. Ngược lại, khi động cơ còn lạnh, Hệ thống làm mát sẽ giúp cho động cơ đễ nóng lên. Bằng cách đó, hệ thống làm mát giúp cho việc duy trì nhiệt độ động cơ thích hợp. Có các kiểu làm mát bằng không khí và làm mát bằng nước.
nhiên, trong động cơ ô tô thì hệ thống làm mát bằng nước được sử dụng là chủ yếu. Yéu cau 'Về mặt nhiệt độ của máy khi đã làm mát thoả mãn, cùng một lúc điều kiện về độ bền nhiệt của vật liệu, về tính bôi trơn của dầu mỡ bôi trơn, về điều kiện nhiệt của sự đốt cháy nhiên liệu ở tốc độ thấp. Lượng nhiên liệu mang vào khoảng (18 - 21) % nhiệt lượng sinh ra khi đốt nhiên liệu trong máy. Tỷ lệ này còn phụ thuộc loại máy to hay nhỏ, 4 kỳ hay 2 kỳ, có tăng áp hay không và mức độ tăng áp cao hay thấp, 89 5.
Phin logi Hiện nay động cơ sử dụng phổ biến hai loại hệ thống làm mát là hệ thống làm mát bằng nước và hệ thống làm mát bằng không khí. Hầu hết các động cơ đốt trong trên máy xây dựng sử dụng phương pháp làm mát bằng nước. Làm mát bằng không khí được sử dụng phổ biến cho các đọng cơ mô tô, xe máy và một số động cơô tô chuyên dùng. Hệ thẳng làm mát bằng không khí kém hiệu quả hơn hệ thống làm mát bằng nước nên ít được sử dụng trên động cơ máy xây dựng.
Động cơ máy xây dựng sử dụng chủ yếu hệ thống làm mát bằng nước, môi chất làm mát là nước có pha thêm các chất phụ gia hoặc sử dụng chất lỏng chuyên dùng. Hệ thống làm mát bằng nước là hệ thông sử dụng moi chất làm mát có thành phần chính là nước. Hệ thống được phân biệt theo phương pháp tạo sự lưu thông của nước làm mát thành hệ thống: Làm mát đối lưu và làm mát cưỡng bức. Trong hệ thống làm mát đối lưu, nước làm mát được luân chuyển được là nhờ sự đối lưu của nước làm mát.
Phương pháp làm mát này có hiệu quả thấp nên được sử dụng rắt hạn chế, chủ yếu trên một số động cơ có công suất nhỏ. Trong hệ (hống làm mát cưỡng bức, nước làm mát được luôn chuyển nhờ. một bơm chuyên dùng ~ bơm nước, được sử dụng rộng rãi hơn vì có hiệu quả cao. Hệ thống làm mát cường bức có thể là vòng tuần hoàn kín hoặc hở.
'Với hệ thống làm mát tuần hoàn hở, sau khi đi qua động cơ, tiếp xúc và lấy nhiệt của các chỉ tiết bị nung nóng, có nhiệt độ cao được xả ra môi trường bên ngoài động cơ. Hệ thóng này thường được sử dụng cho động cơ tàu thủy. 'Với hệ thống làm mát vòng tuần hoàn kín, nước sau khi đi làm mát các chỉ tiết (được giải nhiệt tại két nước nếu cần) quay trở lại động cơ để làm mát các chỉ tiết. Hệ thống này thường sử dụng cho động cơ máy xây dựng hiện nay.
Hiện nay động cơ sử dụng phổ biển hai loại hệ thống làm mát là hệ thống. làm mát bằng nước và hệ thống làm mát bằng không khí. Hầu hết các động cơ đốt trong trên máy xây dựng sử dụng phương pháp làm mát bằng nước. Làm mát bằng không khí được sử dụng phổ biến cho các đọng cơ mô tô, xe máy và một số động cơô tô chuyên dùng.
90 Hệ thống làm mát bằng nước là hệ thông sử dụng moi chất làm mát có thành phần chính là nước. Hệ thống được phân biệt theo phương pháp tạo sự lưu thông của nước làm mát thành hệ thống: Làm mát đối lưu và làm mát cưỡng bức. Trong hệ thống làm mát đối lưu, nước làm mát được luân chuyển được là nhờ sự đối lưu của nước làm mát. Phương pháp làm mát này có hiệu quả thấp nên được sử dụng rất hạn chế, chủ yếu trên một số động cơ có công suất nhỏ.
Trong hệ hồng làm mát cưỡng bức, nước làm mát được luôn chuyển nhờ một bơm chuyên dùng ~ bơm nước, được sử dụng rộng rãi hon vì có hiệu quả cao. Hệ thống làm mát cưỡng bức có thể là vòng tuần hoàn kín hoặc vòng tuần hoàn hở. 'Với hệ thống làm mát tuần hoàn hở, sau khi di qua động cơ, tiếp xúc và lấy nhiệt của các chỉ tiết bị nung nóng, có nhiệt độ cao được xả ra môi trường bên ngoài động cơ. Hệ thóng này thường được sử dụng cho động cơ tàu thủy.
Với hệ thống làm mát vòng tuần hoàn kín, nước sau khi đi làm mát các chỉ tiết (được giải nhiệt tại két nước nếu cần) quay trở lại động cơ để làm mát các chỉ tiết. Hệ thống này thường sử dụng cho động cơ máy xây dựng hiện nay.4 Các hệ thống làm mát + Hệ thống làm mát bằng nước. Cấu tạo như hình vẽ: 1. Áo nước trong thân máy.
Các xilanh 3, Khoá nước 8. Đường nước trên nắp máy 4. ống nồi cao su 9, Van hằng nhiệt 5.Bơm nước 10, Đường nước về két 9Ị Hình 5.1 Hệ thống làm mát động co TOYOTA "Trong hệ thống làm mát bằng nước, nước được lưu thông trong áo nước, hấp thụ nhiệt sản ra từ động cơ và duy trì nhiệt độ thích hợp cho động cơ. Nhiệt hắp thụ này được giải phóng qua bộ két nước, và nước đã được làm nguội lại trở về tuần hoàn trong động cơ.
Nhiệt của nước làm mát cũng có thể được sử dụng cho bộ sấy ấm. Hai loại hệ thống làm mát này còn được phân biệt ra theo vị trí đặt van hằng nhiệt: 'Van hằng nhiệt ở phía đầu vào của bơm nước 'Van hằng nhiệt ở phía đầu ra của bơm nước. Các hệ thống làm mát còn khác nhau ở chỗ chúng có van đi tắt hay không. Trong những năm gần đây, hầu hết các hệ thống làm mát của động cơ đều có trang bị van hing nhiệt có van di tat.2 Van hằng nhiệt ở phía đầu vào của bơm nước.
Van hằng nhiệt; 3. Đường nước đi tắt; 5. Bộ sưởi ấm; 7. Cổ họng gió; 8.
Nguyên lý làm việc của hệ thống Đặc điểm của loại này là van hằng nhiệt được lắp ở đầu vào của bơm nước. Van hằng nhiệt này được trang bị van đi tắt; tuỳ theo sự thay đổi nhiệt độ của nước làm mát mà van này đóng hoặc mở van hằng nhiệt để điều chỉnh nước làm mát đi qua mạch chính và qua mạch đi tắt (mạch rẽ). Khi nước làm mắt còn lạnh: 'Khi nhiệt độ của nước làm mát còn thấp, van hằng nhiệt sẽ đóng và van đi tắt mở. Khi đó nước làm mát sẽ tuần hoàn qua mạch rẽ mà không đi qua van hằng nhiệt.
Nhờ vậy nhiệt độ của nước sẽ tăng lên và động cơ sẽ đạt đến nhiệt độ thích hợp nhanh hơn. Khi nước làm mắt đã nóng lên: 'Khi nhiệt độ của nước làm mát lên cao, van hằng nhiệt mở và van đi tắt đóng lại. Toàn bộ nước làm mát sẽ chảy qua két nước, ở đây nó được làm mắt, sau đó nó đi qua van hằng nhiệt và trở về bơm nước. Bằng cách này, nhiệt độ thích hợp của động cơ được duy trì.
Kiểu có van hằng nhiệt lắp ở đầu vào của bơm, Đối với động cơ không có van đi tắt, khi nhiệt độ của nước làm mát lên cao, nó không được tuần hoàn qua van đi tắt, vì thế hiệu quả làm mát cao hơn. Điều này cũng giúp cho sự hoạt động nhạy cảm của van hằng nhiệt để sự thay đối nhiệt độ nước làm mát ít đi, cho phép động cơ chạyở nhiệt độ ôn định. ~ Hệ thống làm mát bằng không khí "Nhiệt độ sinh ra trong quá trình động cơ làm việc sẽ trực tiếp toả ra ngoài không khí, để tăng diện tích toả nhiệt ở thân xy lanh và nắp máy có cánh toả nhiệt. Trong hệ thống làm mát loại bằng không khí thường có quạt gió để thổi không khí vào các cánh tản nhiệt.
Hệ thống làm mát loại bằng không khí don giản nhưng có nhược điểm là tốc độ làm mát chậm và ứng suất nhiệt cao hơn làm mát bằng nước. Nguyên lý hoạt động của hệ thống làm mát bằng không khí nhờ quạt gió được dùng cho động cơ ô tô 1, Nắp chắn phía trước. Buông không khí 4. Tắm hướng gió 5.
Cánh tản nhiệt 6. Đường thoát không khí “Hình 5. Hệ thống làm mát bằng không khí. % Động cơ được bao bọc bởi các tắm hướng gió nhằm nâng cao hiệu qua của dòng không khí làm mát.
Các tắm che được chế tạo rời, có gân tăng cứng và được lắp lại với nhau tạo thành khoang dẫn khí. Quạt gió thỏi dòng không khí đi qua các cánh tản nhiệt 5 đập mạnh vào các tắm 4. Không khí luồn qua các chỉ tiết (xi lanh, nắp máy). Lấy bớt nhiệt, rồi đi ra ngoài.
Quạt gió được dẫn động. bằng bộ truyền đai từ trục khuyu. 'Với động cơ làm mát bằng không khí, xy lanh và nắp máy được chế tạo. Bao quanh xy lanh và nắp máy là cánh tản nhiệt, các cách này có nhiệm vụ tăng bề mặt tiếp xúc với không khí làm mát.
Nhờ cấu trúc như vậy, khoảng không gian của dòng không khí lớn, tăng hiệu quả làm mát. Trên xe máy có dung tích nhỏ cũng sử dụng biện pháp làm mát bằng không khí nhưng khong bố trí quạt gió. ~ NHIỆM VỤ, CẤU TẠO CÁC BỘ PHẬN CỦA HỆ THÓNG LAM MAT Hinh5. Hệ thông làm mát động cơ 1.
Ông nước và cánh tản nhiệt; 6. Khoá nước lên dàn sưởi ấm buồng.