CHƯƠNG 1: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG MÃ CHƯƠNG: MH-01 GIỚI THIỆU: Phòng hộ lao động với nội dung chủ yếu là công tác an toàn và vệ sinh lao động là các hoạt động đồng bộ trên các mặt luật pháp, tổ chức, hành chính, kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cho người lao động. MỤC TIÊU: + Kiến thức: - Trình bày được phân loại độc tính và tác hại của hóa chất. - Trình bày được nguyên tắc và biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tác hại của hóa chất - Các biện pháp khẩn cấp. - Trình bày được thế nào là phòng chống bụi và phân loại phòng chống bui.
- Trình bày được phương pháp về kỹ thuật phòng cháy chữa cháy. + Kỹ năng: - Thực hiện được công tác bảo hộ lao động và an toàn phòng chống cháy nổ. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: - Rèn luyện tính cẩn thận và an toàn trong công việc NỘI DUNG CHÍNH 1. Phòng chống nhiễm độc hóa chất: 1.
Phân loại độc tính và tác hại của hóa chất. Phân loại: ( độc tính trong sản xuất) - Các chất độc trong sản xuất xây dựng được phân làm hai nhóm chính: + Các chất độc rắn: Chì, thạch tín và một số loại sơn. + Các chất lỏng và khí: ôxít, các bon, xăng, bengen, sunfuahyđrô, cồn, ête, sunfuarơ, axetilen. * Theo độc tố phân ra: - Các chất độc phá huỷ lớp da và niêm mạc: HCL, H2S04, Cr03.
- Các chất độc phá huỷ cơ quan hô hấp: Si02, NH3, S02. - Các chất tác dụng đến máu: C0 ( phản ứng với huyết sắc tố của máu làm mất khả năng chuyển ôxi từ phổi vào tế bào). - Các chất tác dụng lên hệ thống thần kinh: cồn, ête, sunfuahyđrô. Phân loại: (theo nhóm) có thể chia làm 5 nhóm: + Nhóm 1: Những chất gây bỏng, kích thích da và niêm mạc như axit đặc (sulfuric, nitric, clohydric), kiềm đặc NOH3, vôi tôi.
Các chất này gây bỏng nhanh nhất. 9 Các hoá chất dễ hoà tan trong nước như amoniac NH3 , sulfure SO2, clor Cl, dioxitnitơ NO2 khi xâm nhập vào đường hô hấp gây rát bỏng, viêm phế quản, khó thở. Nếu ở mức độ nặng thì có khả năng gây phù phổi (dịch trong phổi). Khí carbonic CO2, metal CH4, etal.
với hàm lượng lớn sẽ làm giảm tỉ lệ oxy trong không khí gây nên hiện tượng ngạt thở. Khí oxit carbon CO, hydroxianure HCN. ngăn cản máu vận chuyển oxy tới các bộ phận của cơ thể người, dễ gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Các chất tác dụng lên hệ thần kinh trung ương gây mê, gây tê như: êtanol C2H5OH, hợp chất hydro carbua, rượu.
Khi tiếp xúc thường xuyên với các hoá chất này, nếu ở nồng độ thấp sẽ gây nghiện, còn nếu ở nồng độ cao sẽ làm suy yếu hệ thần kinh trung ương, thậm chí có thể gây tử vong. Gồm các hoá chất: benzen, chì, arsen As, thuỷ ngân Hg, phosphor. tác hại của các hoá chất này gây tổn thương đến gan, thận, hệ thần kinh làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.3 Tác hại của hóa chất: + Các yếu tố quyết định tác hại của chất độc: Tác hại của chất độc đối với cơ thể người phụ thuộc vào: cấu trúc hoá học của chất độc, liều lượng độc tố, thời gian tiếp xúc và trạng thái cơ thể người. + Tác hại của chất độc: Ảnh hưởng của chất độc còn tuỳ thuộc vào tính chất của độc tố và trạng thái cơ thể của con người.
Nếu độc tính yếu, nồng độ dưới mức cho phép, cơ thể khoẻ mạnh, dù tiếp xúc lâu con người vẫn không bị ảnh hưởng gì. Nếu cơ thể yếu thì sẽ bị viêm mũi, họng và một số biến chứng khác. Khi nồng độ quá giới hạn cho phép, sức đề kháng của cơ thể yếu, độc chất sẽ gây nhiễm độc nghề nghiệp. Khi nồng độ quá cao, dù khoẻ mạnh và tiếp xúc trong thời gian ngắn con người vẫn bị nhiễm độc cấp tính, có thể dẫn đến tử vong.
+ Đường xâm nhập của chất độc: Chất độc có nhiều dạng: Rắn, lỏng, hơi, khói, bụi .và có thể xâm nhập vào cơ thể con người theo các đường: 10 - Hô hấp: Hầu hết các chất độc thể khí, bụi. đều có thể theo đường hô hấp vào phổi, đi thẳng vào máu truyền đến khắp các cơ quan, gây ra nhiễm độc. Trường hợp này nguy hiểm nhất. - Tiêu hoá: Do ăn uống, hút thuốc khi làm việc hay nuốt phải chất độc ở đường hô hấp.
Chất độc qua gan được lọc và thải bớt một phần, nên ít nguy hiểm hơn. - Ngấm qua da: là các chất hoà tan trong mỡ và nước như benzen, rượu. chúng ngấm qua da và vào máu. Một số độc chất khác còn ngấm qua tuyến mồ hôi lỗ chân lông để vào máu.
Nguyên tắc và biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tác hại của hóa chất các biện pháp khẩn cấp 1. Cấp cứu: Khi bị nhiễm độc cấp tính qua đường ruột, da, hô hấp phải cấp cứu nạn nhân kịp thời. Đồng thời phải tổ chức ngăn chặn sự nhiễm độc, nghiên cứu nguyên nhân để tìm biện pháp cải thiện điều kiện làm việc. (- Kế hoạch cấp cứu: Sơ tán, phối hợp với y tế, cứu hoả và các cơ quan khác - Tổ chức đội cấp cứu: Chuyên trách và không chuyên trách.
- Biện pháp sơ cứu: Di chuyển nạn nhân khỏi vùng nguy hiểm, hô hấp nhân tạo, vệ sinh để làm giảm nông độ độc chất, dùng thuốc để hỗ trợ). Biện pháp đề phòng về kỹ thuật: Là những biện pháp tích cực và cơ bản nhất, đó là: - Loại trừ nguyên liệu độc hoặc thay thế bằng nguyên liệu có ít độc tố hơn. - Cơ giới hoá, tự động hóa quá trình sản xuất hoá chất. - Che chắn hoặc cách ly nguồn phát sinh hoá chất nguy hiểm.
Thường xuyên kiểm tra rò rĩ, nứt hở để sửa chữa và xử lý kịp thời. - Thông gió: Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà người ta thiết kế hệ thông thông gió phù hợp để đảm bảo vệ sinh lao động và môi trường công nghiệp. - Tổ chức hợp lý quá trình sản xuất. - Xây dựng và kiện toàn chế độ công tác an toàn lao động.
Dụng cụ phòng hộ các nhân: Được trang bị cho người lao động theo qui định của Nhà nước bao gồm: Bảo vệ cơ quan hô hấp, bảo vệ mắt, bảo vệ thân thể. Biện pháp y tế: Khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện người bị nhiễm độc và có hướng điều trị kịp thời. Giám định khả năng lao động và bố trí công tác thích hợp với điều kiện sức khoẻ của người lao động. Phòng chống bụi trong sản xuất 2.
Định nghĩa và phân loại 11 2. Định nghĩa: Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước nhỏ, bé tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và hệ khí dung nhiều pha gồm: hơi, khói, mù. Khi những hạt bụi bay lơ lửng trong không khí gọi là aerozon, khi chúng đọng lại trên các bề mặt vật thể gọi là aerogen. Phân loại và phát sinh nguồn gốc của bụi trong xây dựng: * Phân loại: cú thể phõn loại theo cỏc cỏch sau: - Theo nguồn gốc phát sinh: bụi vô cơ, bụi hữu cơ.
- Theo kích thước: + > 10 Mm: rơi theo định luật Stoc thường tồn tại ở dạng sương mù, gọi là bụi mù. + > 0,1 Mm: Chuyển động theo định luật Brao, chúng tồn tại ở dạng khói và có thể vào phổi hoàn toàn. - Theo tác hại cơ thể phân ra: - Bụi gây nhiều độc chung: Pb, Hg, Benzen. - Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, viêm hang: Bông, len, gai, tinh dầu, phân hoá học.
- Bụi gây sơ hoá phổi: Silic, Amiăng. - Bụi gây nhiễm trùng: lông, xương, tóc. + Nguồn gốc phát sinh của bụi trong xây dựng: - Khi sản xuất vật liệu: Nghiền xi măng, nghiền đá, sản xuất gạch, vôi. - Khi phá dỡ công trình cũ: Khoan đục bê tông, phá dỡ tường cũ.
- Khi vận chuyển vật liệu rời: Xi măng, vôi bột, cát. - Khi phun sơn, phun cát làm sạch bề mặt tường nhà. - Khi trộn các loại vữa. - Khi cháy, bụi phát sinh dưới dạng sản phẩm cháy không hoàn toàn.
Tác hại của bụi và biện pháp phòng chống 2. T¸c h¹i cña bôi: Trong các xí nghiệp sản xuất, bụi là những hạt vụn của các chất rắn bị phá vỡ khi đánh bóng, trong gia công cắt gọt kim loại, xí nghiệp sản xuất…. Số lượng bụi nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào tính chất sản xuất và thời gian làm việc lài hay ngắn. Bụi có ảnh hưởng không tốt gây ra nhiều tác hại đối với cơ thể con người.
+ Đối với da: Bụi có thể xuyên qua da, có thể bịt kín các lỗ của tuyến nhờn, gây ra mụn, nhọt, lở loét…Bụi có thể bịt kín các lỗ chân lông làm mồ hội không thoát ra ngoài được, do đó ảnh hưởng đến sực bài tiết, thải nhiệt làm cho con người bứt rứt, khó chịu. + Đối với mắt: Bụi có thể gây chấn thương giác mạc, nếu vết thương lớn có thể gây thành sẹo. Do đó thị lực bị giảm sút, có khi bị hỏng mắt. 12 + Đối với cơ quan hô hấp: Bụi có kích thước lớn hơn 50 m thường rơi xuống đất hoặc có vào cơ thể thì cũng dính ở lại mũi hoặc họng, đặc biệt là bụi dưới 20 m sẽ xâm nhập vào cuống phối hoặc phổi.
Bụi to dính ở mũi hoặc cổ họng có thể gây viêm mũi, viêm họng. Bụi nhỏ vào phổi cũng có thể gây viêm phổi hoặc ung thư phổi. Nếu công nhân hút phải bụi silic sẽ bị tổn thương ở phổi, hệ thần kinh, ống tiêu hóa, gan, lá lách, thận… + Đối với cơ quan tiêu hóa: Bụi có thể viêm lợi, hỏng răng như bụi xi măng, bụi đường, bột.một số bụi như than chì, kẽm…khi bụi vào dạ dày làm giảm sút sự bài tiết dịch vị, các bụi to có cạnh sắc có thể làm sây sát niêm mạc, dạ dày, viêm loét dạ dày và gây những rối loạn về thiêu hóa. + Bệnh nhiễm bụi phổi: Khi ta thở có lông mũi và màng niên dịch của đường hô hấp nên phần lớn các hạt bụi có kích thước lớn bị ngăn lại ( 5 Mm) ở hốc mũi ( tới 90%).
Các hạt bụi nhỏ hơn theo không khí vào tận phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào bao vây và tiêu diệt ( khoảng 90% nữa), số còn lại đọng ở phổi gây ra một số bệnh bụi phổi. Những biện pháp đề phòng chống bụi trong sản xuất 2.