CHƯƠNG I: CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày được tác dụng của việc thông gió và tổ chức thông gió. + Trình bày được các nguyên nhân gây cháy, nổ. + Trình bày được tác động của bụi lên cơ thể con người và các tác động của việc nhiễm hóa chất lên cơ thể con người. - Kỹ năng: + Nhận biết được tác dụng của việc thông gió nơi làm việc.
Tổ chức thông gió nơi làm việc đạt yêu cầu. + Giải thích được nguyên nhân gây cháy, nổ. Thực hiện các biện pháp phòng chống cháy nổ. + Giải thích được tác động của bụi lên cơ thể con người.
Thực hiện các biện pháp phòng chống bụi. + Giải thích được tác động của nhiễm độc hoá chất lên cơ thể con người. Thực hiện các biện pháp phòng chống nhiễm độc hoá chất. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Nghiêm túc trong học tập và ghi chép bài đầy đủ.
Nội dung chính: 2. Phòng chống nhiễm độc. Đặc tính chung của hoá chất độc. - Do các phản ứng lý hóa của chất độc với các hệ thống cơ quan tương ứng mà có sự phân bố đặc biệt cho từng chất: + Hóa chất có tính điện ly như chì, bary, tập trung trong các môi trường xung quanh, bạc vàng ở trong da hoặc lắng đọng trong gan, thận dưới dạng phức chất.
+ Các chất không điện ly như các loại dung môi hữu cơ tan trong mỡ tập trung trong các tổ chức giầu mỡ như hệ thần kinh. + Các chất không điện ly và không hòa tan trong các chất béo khả năng thấm vào các tổ chức của cơ thể kém hơn và phụ thuộc vào kích thước phân tử và nồng độ chất độc, thông thường khơi hóa chất vào cơ thể tham gia các phản ứng sinh hóa hay là quá trình biến đổi sinh học: ôxy hóa, khử ôxy, thủy phân, liên hợp. Quá trình này có thể xảy ra ở nhiều bộ phận và mô, trong đó gan có vai trò đặc biệt quan trọng. Quá trình này thường được hiểu là quá trình phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc, song có thể sẽ tạo ra sản phẩm phụ hay các chất mới có hại hơn các chất ban đầu.
- Tùy thuộc vào tính chất lý, hóa, sinh mà một số hóa chất nguy hiểm sẽ được đào thải ra ngoài: + Qua ruột: chủ yếu là các kim loại nặng. + Qua mật: Một số chất độc được chuyển hóa rồi liên hợp sunfo hoặc glucuronic rồi đào thải qua mật. + Qua hơi thở có thể đào thải một số lớn chất độc dưới dạng khí hơi. + Chất độc có thể cũng được đào thải qua da, sữa mẹ.
- Đường đào thải chất độc rất có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị nhiễm độc nghề nghiệp. - Một số hơi, khí độc có mùi, làm cho ta phát hiện thấy có chúng ngay khi nồng độ nằm dưới mức cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh. Nhưng sau một thời gian ngắn, một số sẽ mất mùi khiến ta không cảm nhận được nữa và dễ dàng bị nhiễm độc (ví dụ H2S). Một số hơi, khí độc không có mùi và lại không gây tác động kích thích với đường hô hấp.
Đây là loại rất nguy hiểm, bởi lẽ ta không thể phát hiện được bằng trực giác ngay cả khi chúng vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Tác hại của hóa chất độc. a) Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người. - Đường hô hấp: Hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi.
- Hấp thụ qua da: Khói hóa chất dây dính vào da. - Đường tiêu hóa: Do ăn, uống phải thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn đã bị nhiễm hóa chất. b) Các yếu tố làm tăng nguy cơ người lao động bị nhiễm độc. - Do khí hậu.
- Lao động thể lực quá sức làm tăng tuần hoàn, hô hấp và tăng mức độ nhiễm độc. - Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối làm giảm sức đề kháng của cơ thể. c) Kích thích: - Kích thích đối với da: Khói là một hóa chất tiếp xúc với da, có thể chúng sẽ làm biến đổi các lớp bảo vệ của cho da bị khô, xù xì và xót. Tình trạng này được gọi là viêm da.
Có rất nhiều hóa chất gây viêm da. - Kích thích đối với mắt: Hóa chất nhiễm vào mắt có thể gây tác động từ khó chịu nhẹ, tạm thời, tới thương tật lâu dài. Mức độ thương tật phụ thuộc vào lượng, độc tính của hóa chất và các biện pháp cấp cứu. Các chất gây kích thích đối với mắt thường là: axít, kiềm và các dung môi.
d) Gây ngạt: Sự ngạt thở là biểu hiện của việc không đủ ôxy vào các tổ chức của cơ thể. Có hai dạng: Ngạt thở đơn thuần và ngạt thở hóa học. e) Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan của cơ thể. - Một trong những chức năng của gan là làm sạch chất độc có trong máu bằng cách biến đổi chúng thành chất không độc và những chất có thể hòa tan trong nước trước khi bài tiết ra ngoài.
Tuy nhiên, một số hóa chất lại gây tổn thương cho gan. Tùy thuộc vào các loại hóa chất, liều lượng và thời gian tiếp xúc mà có thể dẫn tới hủy hoại mô gan, để lại hậu quả xơ gan và giảm chức năng gan. Các dung môi: alcol, cacbon tetraclorua, tricloetylen, clorofom có thể gây tổn thương gan, dẫn đến viêm gan với các triệu chứng vàng da, vàng mắt. - Thận là một phần của hệ tiết niệu, chức năng của hệ tiết niệu là bài tiết (đào thải) các chất cặn do cơ thể sinh ra, duy trì sự cân bằng của nước và muối, kiểm soát và duy trì nồng độ axít trong máu.
Các hóa chất cản trở thận đào thải chất độ gồm etylen glycol, cacbon đisunphua, cacbon tetraclorua, cacbon đisulphua. Các hợp chất khác như, chì, nhựa thông, etanol, toluen, axylen. sẽ làm hỏng dần chức năng của thận. - Hệ thần kinh có thể bị tổn thương do tác động của các hóa chất nguy hiểm, ví dụ như: - Tiếp xúc lâu dài với các dung môi sẽ dẫn tới các triệu chứng mệt mỏi, khó ngủ, đau đầu và buồn nôn; nặng hơn sẽ là rối loạn vận động, liệt và suy tri giác.
- Tiếp xúc với hecxan, mangan và chì sẽ làm tổn thương hệ thần kinh ngoại vi, để lại hậu quả liệt rủ cổ tay. - Tiếp xúc với các hợp chất có phốt phát hữu cơ như parathơion có thể gây suy giảm hệ thần kinh; còn với cacbon đisunphua có thể dẫn đến rối loạn tâm thần. - Một số hóa chất nguy hiểm có thể tác động tới hệ sinh dục, làm mất khả năng sinh đẻ ở đàn ông và sẩy thai ở phụ nữ đang mang thai. Các chất như: etylen đibromua, khí gây mê, cacbon đisunphua, clopren, benzen, chì, các dung môi hữu cơ.
có thể làm giảm khả năng sinh sản ở nam giới. Tiếp xúc với thuốc gây mê thể khí, glutaranđehơit, clopren, chì, các dung môi hữu cơ, cacbon đisunphua và vinyl clorua có thể sẩy thai. f) Ung thư: - Khi tiếp xúc lâu dài với một số hóa chất có thể tạo sự phát triển tự do của tế bào, dẫn đến mắc các khối u hoặc ung thư. Những khối u này có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc với hóa chất.
Các chất như asen, amiăng, crom, niken, bis-clometyl ete. có thể gây ung thư phổi. Bụi gỗ và bụi da, niken crom, dầu isopropyl có thể gây ung thư mũi và xoang. Ung thư bàng quang do tiếp xúc với benziđin, 2-naphtylamin và bụi da.
Ung thư da do tiếp xúc với asen, sản phẩm dầu mỏ và nhựa than. Ung thư gan có thể do tiếp xúc vinylclorua đơn thể, trong khi ung thư tủy xương là do benzen. g) Hư thai (quái thai) - Dị tật bẩm sinh có thể là hậu quả của việc tiếp xúc với các hóa chất gây cản trở quá trình phát triển bình thường của bào thai. h) Ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai.
- Một số hóa chất tác động đến cơ thể người gây đột biến gen tạo những biến đổi không mong muốn trong các thế hệ tương lai, theo kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80 - 85% các chất gây ung thư có thể tác động đến gen. i) Những nguy cơ cháy nổ. Đa số hóa chất đều tiềm ẩn các nguy cơ gây cháy nổ. Việc sắp xếp, bảo quản, vận chuyển, sử dụng hóa chất không đúng cách đều có thể dẫn đến tai nạn từ một đám cháy nhỏ tới thm họa thiệt hại lớn về người và tài sản.
j) Cháy - Để có sự cháy cần 3 yếu tố: nhiên liệu (chất cháy), ôxy và một nguồn nhiệt. Những yếu tố này phải ở trong một tỷ lệ, hoàn cảnh thích hợp trước khơi bắt lửa và gây cháy Bình thường để bắt lửa và bốc cháy môi trường không khí cần có nồng độ ôxy từ 15 - 21%. - Nổ: Hỗn hợp nhiên liệu với ôxy chỉ nổ khi ở trong giới hạn nhất định về nồng độ. Lượng nhiên liệu quá mức với một lượng ôxy không đủ (có nghĩa là hóa chất đó quá nhiều), hay ngược lại nồng độ ôxy cao và một lượng nhiên liệu không đủ (có nghĩa là chất đó quá ít) đều không thể nổ được.
Cách phòng tránh nhiễm độc. a) Những nguyên tắc cơ bản của việc phòng ngừa. - Thay thế: Loại bỏ các chất hoặc các quá trình độc hại, nguy hiểm có thể thay thế chúng bằng thứ khác ít nguy hiểm hơn hoặc không còn nguy hiểm nữa. - Quy định khoảng cách hoặc che chắn giữa người lao động và hóa chất nhằm ngăn cách mọi nguy cơ liên quan tới hóa chất đối với người lao động.
- Thông gió: Sử dụng hệ thống thông gió thích hợp để di chuyển hoặc làm giảm nồng độ độc hại trong không khí chẳng hạn như khói, khí, bụi, mù. - Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động nhằm ngăn ngừa việc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất.1: Phương tiện bảo vệ cá nhân ngăn ngừa tiếp xúc trực tiếp với hóa chất. - Biện pháp tốt nhất trong việc ngăn chặn các rủi ro phát sinh từ việc sử dụng các hóa chất nguy hiểm là loại trừ khỏi môi trường làm việc những hóa chất đó. Tuy nhiên, điều này không phải luôn thực hiện được.
Vì vậy, điều quan trọng tiếp theo là cách ly nguồn phát sinh các hóa chất nguy hiểm, hoặc tăng thêm các thiết bị thông gió và dùng phương tiện bảo vệ cá nhân.