Chương 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở TỈNH PHÚ YÊN(1802-1884) 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lí:Phú Yên là tỉnh nằm ở miền Trung Việt Nam, trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ Bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh Đông; phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông. Dưới triều Nguyễn, giao thông vận tải Phú Yên chịu sự ảnh hưởng rất lớn của vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. Địa thế Phú Yên vào thế kỉ XIX được ghi trong Đại Nam nhất thống chí: “Phía Tây khống chế man lạo, phía Đông ngăn chặn miền biển.
Núi Đại Lĩnh sừng sững phía Nam, núi Cù Mông giới hạn phía Bắc. Núi cao thì có Thạch Bi (núi Đá Bia), Chủ Sơn (Núi Chúa) và Vụ Mã làm bình phong trấn giữ; sông lớn thì có các dòng Đà Diễn, Thạch Bàn và Phú Ngân là đai vạt chở che. Hồ đầm xen nhau, cồn đảo vây bọc, cửa biển đầu nguồn, khách buôn tụ tập. Đất tuy hẹp nhỏ, nhưng dân cư khá đông, sản vật dồi dào, cũng là một nơi trọng yếu” [21, tr.
Những ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí cho thấy Phú Yên là tỉnh có vị trí quan trọng đối với triều Nguyễn, là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho dân cư sinh sống cũng như phát triển giao thông vận tải thủy, bộ. Địa hình: Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía Tây là vùng núi, rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và đồng bằng, ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp, độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn.
Các đồng bằng lòng chảo, bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây. Cả ba mặt của Phú Yên đều là núi, phía bắc có dãy Cù Mông, phía nam là dãy Đại Lãnh, phía tây là mạn sườn Đông của dãy Trường Sơn. Vùng rừng núi phía Tây và gờ núi Trường Sơn Nam giàu có về tài nguyên thiên nhiên.
Đó là loại rừng nhiệt đới ẩm, nhiều tầng, nhiều loài. Chính sự đa dạng và phong phú của các sản vật ở núi rừng phía Tây đã 13 góp phần đưa đến sự phát triển của kinh tế thương nghiệp (cả nội thương và ngoại thương) Phú Yên không chỉ ở thời kì Chăm-pa mà cả ở thời kì triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884. Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, góp phần đa dạng các mặt hàng vận chuyển, đáp ứng cho nhu cầu trao đổi, buôn bán của Phú Yên trong nhiều thế kỉ, bao gồm cả giai đoạn 1802-1884. Tuy nhiên, cũng do cấu tạo địa chất với nhiều núi đèo, đồng bằng bị chia cắt, nhỏ hẹp nên việc phát triển giao thông vận tải, trước hết là giao thông vận tải đường bộ ở Phú Yên cũng gặp nhiều khó khăn, trở ngại, ảnh hưởng lớn đến việc khai thác và sử dụng các các công trình giao thông vận tải.
Sông ngòi: Phú Yên là tỉnh có khá nhiều sông suối và có ưu thế về đường biển, thích hợp cho việc phát triển giao thông vận tải thủy nhất là giao thông vận tải đường biển, hình thành nhiều cảng khẩu, thương cảng. Theo Đại Nam nhất thống chí, trong thế kỉ XIX, Phú Yên có 4 con sông lớn (sông Đà Diễn/Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Phú Ngân và sông Long Bình/sông Cầu). Trong đó, hệ thống sông Ba-Đà Rằng thuộc hệ thống sông lớn không chỉ của vùng Nam Trung bộ mà còn là hệ thống sông lớn của cả nước;cung cấp phù sa, bồi đắp đồng bằng Tuy Hòa, Tuy An.Về mặt kinh tế, có thể nói, các đồng bằng ở Phú Yên tồn tại không tách rời với vùng đồi núi và cao nguyên phía trong, đặc biệt với lưu vực các con sông và với vùng biển-thềm lục địa ở phía ngoài. Hoạt động kinh tế ở vùng đồng bằng duyên hải trở nên phong phú và đa dạng; cung cấp nguồn hàng hóa dồi dào, đáp ứng cho nhu cầu giao lưu, trao đổi trong tỉnh và với các vùng, miền khác trong cả nước.
Vì vậy, hoạt động vận chuyển hàng hóa cũng trở nên nhộn nhịp, các loại hàng hóa đa dạng, vừa đáp ứng nhu cầu tại chỗ, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế của địa phương và cả nước nói chung. Các con sông không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho vùng đồng bằng và châu thổ; mà còn là gạch nối quan trọng trong giao thương giữa miền núi, trung du với đồng bằng ven biển để hàng hóa theo các dòng sông từ đất liền ra biển và từ biển vào sông-đất liền. Bên cạnh đó, các sông nhỏ và chi lưu cũng góp phần bổ sung tích cực cho trục giao thương huyết mạch, kết nối những không gian khác nhau trong tỉnh. Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi ở Phú yên nói riêng, Nam Trung bộ nói chung chủ yếu được 14 bắt nguồn từ dãy Trường Sơn-Tây Nguyên và đổ ra biển Đông; độ cao tuy không lớn nhưng từ thượng nguồn đến hạ lưu ngắn, dốc nên lưu lượng và tốc độ nước thường mạnh, lên xuống rất nhanh; gây nhiều khó khăn cho phát triển giao thông thủy nội địa.
Thêm vào đó, mạng lưới sông ngòi dày đặc lại không thuận lợi cho các loại hình vận tải khác, nhất là vận tải đường bộ, đòi hỏi phải làm nhiều cầu, cống, tốn kém về kinh phí, nhân lực và dễ gây tắc nghẽn giao thông trong mùa mưa lũ. Bờ biển: Cũng như các tỉnh khác ở vùng Nam Trung bộ, Phú Yên có nhiều sông, suối và trải dài theo đường bờ biển, với nhiều cửa biển có thể đón thuyền vào neo đậu; thuận lợi cho phát triển giao thông và giao thương bằng đường thủy, đặc biệt là đường biển. Chiều dài bờ biển là 198 km có nhiều cửa biển thuận tiện cho tàu bè đi lại và cập bến. Dưới thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884), Phú Yên có các cửa biển: Cù Mông, Vũng Lấm, Xuân Đài, Phú Sơn, Đà Diễn, Đà Nông.
Theo thời gian, các cửa biển này có sự biến đổi nông sâu khác nhau. Cửa biển Cù Mông rộng 95 trượng, thuỷ triều lên sâu 4 trượng, 5 thước, thuỷ triều xuống sâu 4 trượng. Đầu đời Gia Long có tấn thủ, đến đời Tự Đức thì bỏ. Đến thời Duy Tân, rộng đến 380 trượng; sở thương chánh được đặt ở đây.
Cửa biển Vũng Lấm (Vũng Lầm), ban đầu rộng 380 trượng, thuỷ triều lên sâu 1 trượng 5 thước; thuỷ triều xuống sâu 1 trượng. Đầu đời Gia Long cũng có đặt tấn thủ, đến thời Tự Đức thì bỏ. Đến thời Duy Tân, rộng khoảng 318 trượng, khi nước lên sâu 1 trượng 5 thước, nước ròng sâu 1 trượng ; sở thương chánh được đặt ở đây. Đây là cửa biển mà khách buôn tụ tập, dân cư đông đúc.
Cửa Xuân Đài: Ban đầu, rộng 2 trượng, thuỷ triều lên sâu 1 trượng 2 thước, thuỷ triều xuống sâu 8 thước, có đặt tấn thủ ở đây. Đến thời Duy Tân, rộng đến 50 trượng, khi nước lên sâu 1 trượng, nước ròng sâu 8 thước; không đặt tấn thủ nữa. Cửa Phú Sơn rộng 48 trượng, thuỷ triều lên sâu 4 thước, thuỷ triều xuống sâu 2 thước 2 tấc, có đặt tấn thủ. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), do nước lụt nên mở ra cảng mới, rộng 24 trượng, sâu 1 trượng 1 thước, cách lạch cũ 1.
Cửa Đà Diễn (Đà Rằng) rộng 40 trượng, lúc thuỷ triều lên sâu 5 thước 5 tấc, thuỷ triều xuống, sâu 7 thước 8 tấc, có thủ sở. Thời Duy Tân, rộng 15 trượng, khi nước lên sâu 1 thước, nước ròng sâu 4 thước 8 tấc; không đặt tấn thủ nữa mà đặt làm sở thương chánh. Cửa Đà Nông 15 (Đà Nùng), rộng 12 trượng 8 thước, lúc thuỷ triều lên sâu 4 thước 8 tấc, thuỷ triều xuống, sâu 3 thước 5 tấc, có thủ sở nhưng rồi bỏ. Thời Duy Tân, rộng 28 trượng 8 thước, khi nước lên sâu 4 thước 4 tấc, nước ròng sâu 3 thước 5 tấc [40; tr.
Trong số các cửa biển lớn ở Phú Yên, cửa Cù Mông là cửa biển sâu nhất, sau đó là Vũng Lấm và Xuân Đài. Các cửa biển cùng với đầm, vịnh rất thuận tiện cho việc thiết lập các cảng, tàu thuyền trú ngụ và được che chắn từ phía ngoài bởi các đảo và bán đảo. Do vậy, dưới triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) Phú Yên cũng có nhiều điều kiện để phát triển giao thông vận tải đường biển. Hoạt động mậu dịch, trước hết là mậu dịch nhà nước diễn ra sôi động thông qua vai trò của các cảng biển.
Khí hậu: Phú Yên là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt (mùa khô, mùa mưa). Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7 và mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau. Đầu thế kỉ XVII, khi có mặt ở Thuận- Quảng (vùng đất tương đương với các tỉnh từ Quảng Trị đến Phú Yên hiện nay), Cristophoro Borri cho biết khí hậu ở đây như sau: Nếu trong mùa hè bao gồm các tháng 6, 7, 8 xứ này nóng vì ở trong vùng nhiệt đới và mặt trời ở vào đỉnh điểm của nó thì trái lại, tháng 9, 10, 11 là mùa thu, cái nóng hết đi, không khí trở nên điều hòa nhờ những cơn mưa liên tục từ trên miền núi cao, các dòng nước tuôn trào tràn ngập vương quốc, chảy ra đến tận biển…. Cuối cùng, vào tháng 3, 4, 5, người ta thấy hiệu quả của mùa xuân.
Tất cả đều xanh tươi và nở hoa [3, tr. Đặc trưng chế độ nhiệt ở Phú Yên là mùa đông ngắn, ít lạnh và mùa hè nắng nóng kéo dài. Nhiệt độ cao trung bình thường trên 280C và nhiệt độ thấp trung bình từ 20-250C. Đặc điểm khí hậu đã tác động không nhỏ đến hoạt động kinh tế ở Phú Yên.
Cơ cấu hàng hóa, các loại hàng hóa vận tải cũng mang đặc trưng riêng của địa phương. Mặt khác, khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giao thông vận tải, nhất là giao thông vận tải thủy nội địa. Vào mùa khô, hầu như các sông ngòi đều cạn nước, giao thông vận tải đường sông trở nên khó khăn. Như vậy, các yếu tố khí hậu, thời tiết cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển giao thông vận tải của địa phương, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phân bố nguồn hàng hóa và hoạt động của các loại phương tiện vận tải.