CHƯƠNG I :KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI CHĂM VÀ SỰ DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀO ĐẤT QUẢNG NAM.1 Sơ lược về vùng đất Quảng Nam và lịch sử người Chăm ở Quảng Nam: 1.1 Sơ lược vùng đất Quảng Nam xưa và ngày nay: Vị trí địa lí, hành chính: Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chăm-pa. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là "mở rộng về phương Nam". Quảng Nam nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống văn hóa, độc đáo về bản sắc văn hóa. Quảng Nam xưa kia là vùng đất của Chiêm Thành.
Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Lí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc. Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị.
Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Tên Quảng Nam xuất hiện từ đây. 8 Đến thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn(từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc".
Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn cai trị này của chúa Nguyễn Hoàng như sau: “Chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều.Trấn trở nên một đô hội lớn”. Năm 1806,thời nhà Nguyễn vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 8 phủ, huyện gồm Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Hoa, Tam Kỳ, và Tiên Phước.Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.Cho đến năm 1997, vào kỳ họp thứ X của Quốc Hội tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Mảnh đất Quảng Nam - nơi gặp gỡ, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hoá phát triển rực rỡ trong lịch sử như văn hoá Sa Huỳnh, văn hoá Chămpa, văn hoá Đại Việt.
Người Chăm vốn có nền văn hóa lâu đời, phát triển rực rỡ từ thuở vương quốc Chămpa còn phồn thịnh.Và vương quốc Chămpa đã được hình thành ở nơi này, đã có sự trao đổi kinh tế và giao lưu văn hóa giữa các vùng khác. Dựa trên những tư liệu thành văn và khảo cổ học ngày nay có được cho thấy cương vực nước Lâm Ấp mà sau này là Chăm-pa gồm dải đồng bằng ven biển Duyên hải miền Trung và một phần cao nguyên, từ Sông Gianh (Quảng Bình) đến sông Dinh – Bình Thuận. Vương quốc Chămpa được chia thành 5 khu vực, tại Quảng Nam có hai khu vực là Amarapati và Indrapura - cũng là hai kinh đô lớn của Chămpa. Lịch sử của 9 vương quốc Chămpa giai đoạn từ khi mới thành lập đến thế kỷ X, trên đại thể có 3 vương triều kế tiếp nhau.
Các sử gia nước ta cũng đã có nhiều tác phẩm ghi chép về lịch sử - văn hóa người Chăm. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, ở phần ngoại kỷ, sử quan nhà Lê gọi người Chăm là người Man ở nước Hồ Tôn, sang phần bản kỷ gọi là người Chiêm ở nước Chiêm Thành. Trong lịch sử của Trung Quốc cũng đã có những ghi chép về mảnh đất và con người nơi đấy. Cuối thế kỷ II, đời Sơ Bình (190-193) nhân lúc Trung Quốc loạn lạc, dân Tượng Lâm ở nơi xa xôi nhất đã được thắng lợi trước tiên.
Họ đã nổi dậy, giết huyện lệnh, giành quyền tự chủ và lập nước. Cuộc khởi nghĩa tiến hành trong hoàn cảnh thuận lợi: dân Giao Chỉ và Cửu Chân cũng đang đứng lên đấu tranh chống sự hà khắc của Trung Quốc, đánh phá Châu Thành, giết thứ sử Chu Phù (190) khiến mấy năm nay không lập nổi quận trị. Người lãnh đạo Nhật Nam có tên là Khu Liên (theo tiếng Chăm gọi là Kurung, có nghĩa là tộc trưởng, thủ lĩnh, vua. Quốc gia mới lập của nhân dân Tượng Lâm một thời gian dài được các thư tịch cổ Trung Hoa gọi là nước Lâm Ấp.
“Lương thư” tức bộ sử của nhà Lương (502-556) do Diêu Tư Liêm soạn vào đầu thế kỷ VII đã dựa vào tài liệu ghi chép của các thời trước cho biết một cách hệ thống về nước Lâm Ấp: Khu Liên, Phạm Hùng, Phạm Duật, Phạm Văn… làm vua vào khoảng cuối thế kỉ II đến đầu thế kỷ V. Trong thời gian này thì các quan lại Trung Hoa nhiều lần đem quân đánh Lâm Ấp nhưng không thắng vì Lâm Ấp dựa vào địa điểm hiểm trở chống cự được. Biên niên sử Trung hoa cũng đã ghi chép lại quá trình hình thành vương quốc Chăm-pa. Từ năm 335, vua Chăm là Wen (Phạm Văn) đã đem quân đi chinh phục được hết các bộ lạc hoang dã ở miền núi, để thành lập vương quốc thống nhất đa dân tộc, mở rộng biên giới tới dãy Hoành Sơn (Quảng Bình).
Tên gọi Chămpa được biết xuất hiện lần đầu tiên trên văn bia của vua Sambhurarman (595-629), và cả trên văn bia Chân Lạp gọi là bia Arg Chumnik. Tên gọi này có thể là tên của một loài hoa rất đẹp - hoa Ngọc Lan Champaca, hay là địa danh một nơi nào đó ở vùng Ấn Độ phía bắc hạ lưu sông Hằng. Đây cũng là nguồn tài liệu bia 10 ký quan trọng, ít nhiều so sánh các tên vua theo cách gọi của bi ký và thư tịch.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Vương quốc Chămpa: Từ khoảng TK III đến TK VIII, cương vực Chămpa lúc mở rộng nhất nằm trải dài từ dãy núi Hoành Sơn sông Gianh ở phía Bắc cho đến sông Dinh – Hàm Tân (Bình Thuận) và từ biển Đông đến tận miền núi phía Tây nước Lào ngày nay. Tỉnh Quảng Nam ngày nay được coi là chiếc nôi sinh thành của Chămpa.
Lãnh thổ Chămpa chia ra thành hai vùng: vùng phía Bắc (Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, là nơi cư trú của bộ tộc Cau). Vùng phía Nam (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; là nơi cư trú của bộ tộc Dừa). Dãy núi Trường Sơn chia cắt Chămpa thành nhiều vùng thường được gọi là các châu, gồm có châu Armavati (ở phía Bắc, từ Quảng Bình đến Quảng Nam với kinh đô Indrapura - Đồng Dương về sau Đồng Dương còn là một trung tâm Phật giáo). Trong các thời kỳ lịch sử các châu này tranh giành ảnh hưởng và địa vị lẫn nhau.
Tiểu quốc nào mạnh sẽ ảnh hưởng bao trùm lên các tiểu quốc và tiểu vương ở đó sẽ trở thành kinh đô của cả vương quốc rộng lớn. Do đó, trong lịch sử Chămpa đã trải qua nhiều kinh đô khác nhau. - Giai đoạn Sinhapura(hay còn gọi là Lâm Ấp) từ đầu đến khoảng năm 750. Vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên nhà nước Lâm Ấp đã được ra đời, do vua Khu Liên lập ra năm 192, là kết quả đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Hán của nhân dân vùng đất cực nam quận Nhật Nam.
Đây được coi là thời kỳ đầu của vương quốc Chămpa. Căn cứ vào theo các nguồn sử liệu nêu trên xác định sự ra đời và tồn tại của Chămpa cổ. Trung tâm Lâm Ấp là huyện Thọ Linh cũ (thuộc Thuận Hóa, Thừa Thiên, Huế) và vùng Kim Sơn, Bồng Miêu (Quảng Nam). Tuy gặp phải nhiều khó khăn nhưng Lâm Ấp vẫn giữ được chủ quyền và bắt đầu công cuộc phát triển đất nước.
Năm 653, Chư Cát Địa trở thành vua và cho 11 xây nhiều đền tháp ở Mỹ Sơn. Vua Vikrantarman nối ngôi và truyền cho Lư Đà Na (Rudravarman). Lâm Ấp tồn tại đến khoảng năm 758. - Giai đoạn Virapura(Hoàn vương _ Panduranga) khoảng 750 – 850.
Khoảng năm 749 lãnh thổ Lâm Ấp được mở rộng đến Panduranga. Đây là thời kỳ vùng miền Nam Kauthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang) nắm bá quyền đối với các tiểu quốc khác của Chămpa. Kinh đô Chămpa chuyển về Virapura nên giai đoạn này gọi là giai đoạn Virapura hay còn gọi là Hoàn vương. Vương triều Virapura trải qua 5 triều đại gồm: + Prithi Indravarman +Satyavarman +Indravaman I (787 – 801) +Harivarman (801 – 817) +Vikrantavarman III (829- 854) Về phía Bắc, Hoàn Vương mở rộng đến Quảng Nam – Đà Nẵng với cảng thị Đại Chiêm Khẩu (Hội An).
Vua đầu tiên của Hoàn Vương là Prathivindravarman, vua thứ hai là Satyavarman – người kháng cự lại cuộc tấn công của quân Java vào khu đền Po Nagar năm 774. Dưới đời vua Indravarman I, Ấn Độ giáo và Phật giáo đều phát triển. Quân đội Java lại đi cướp kinh đô Virapura. Em rể Indravarman I là Harivarrman nối ngôi Indravarman I, lúc này Champa phát triển mạnh lên.
Trong các năm 808 và 819 Chămpa tiến đánh An Nam. Từ năm 813 đến 817, hoàng tử Chămpa là Vikrantavaman III đã hai lần tiến quân đánh Chân Lạp. Trong những năm sau đó, ông đã lên nối ngôi vua nhưng không có con trai nên triều đình chọn Indravarman, xuất thân từ phía Bắc Chămpa lên nối ngôi, lịch sử Chămpa chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ của vương triều Indrapura phía Bắc và đến đây thời kỳ Hoàn Vương chấm dứt sau 100 năm cai trị. Trong suốt giai đoạn lịch sử 100 năm của vương triều Hoàn vương – Virapura là một thời kỳ lịch sử khá đặc biệt.
Suốt thời gian dài 100 năm các vị vua có nguồn 12 gốc phía Nam đã lên trị vì Chămpa.