phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng, 6 tiết. CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Cơ sở lý luận tiếp cận công tác giáo dục của Phật giáo 1. Tiếp cận khái niệm Trƣớc khi tìm hiểu khái niệm công tác giáo dục của Phật giáo, chúng ta đề cập đến các khái niệm: giáo dục, công tác giáo dục - Giáo dục: Giáo dục trong tiếng Anh: Eeducation – vốn có gốc từ tiếng Latinh “Educare có nghĩa là “làm bộc lộ ra”, theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm ngƣời đƣợc trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu.
Giáo dục thƣờng diễn ra dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời khác, nhƣng cũng có thể thông qua tự học. Sự giáo dục của mỗi cá nhân con ngƣời bắt đầu từ khi mới sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời. Theo quan điểm của các nhà giáo dục học thì giáo dục thông qua ba môi trƣờng chính, đó là: gia đình, nhà trƣờng và xã hội, trong đó các cá nhân trong gia đình có ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả giáo dục, thƣờng có ảnh hƣởng nhiều hơn, mặc dù việc dạy dỗ trong gia đình có thể không mang tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thông thƣờng. Platon – một trong những nhà tƣ tƣởng vĩ đại nhất thời cổ đại cho rằng, mục đích của giáo dục là để phát triển hoàn thiện cơ thể và tâm hồn của những học sinh.
Theo Aristotle – bộ óc bách khoa toàn thƣ của triết học Hy Lạp cổ đại thì giáo dục là để phát triển những khả năng của con ngƣời, đặc biệt là tâm trí, 12 z để ngƣời ta có thể thƣởng ngoạn đƣợc chân lý cuối cùng, cái đẹp và những điều thiện lành. Còn Durkkheim thì quan niệm giáo dục nhƣ là sự xã hội hóa thế hệ trẻ. Thực ra, giáo dục không chỉ là việc truyền trao kiến thức, mà giáo dục còn bao gồm cả việc huấn luyện những năng lực tƣ tƣởng, cảm xúc, ý chí và hành động; bao gồm việc phát triển những khả năng để nhận thức, phân biệt, chọn lựa, cảm nhận và hành động. Nó chuẩn bị đời sống để sống với ngƣời khác, chuẩn bị cái toàn thể cho đời sống, phát triển đời sống tinh thần, khai mở những giá trị tâm linh,… Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, Giáo dục là "Quá trình đào tạo con ngƣời một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con ngƣời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó đƣợc thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài ngƣời.
Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc trƣng của xã hội loài ngƣời. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài ngƣời, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu đƣợc và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phƣơng pháp tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội" [36, tr.
Nhƣ vậy, từ khái niệm trên có thể khẳng định ba vấn đề chúng ta cần quan tâm: + Giáo dục có lịch sử lâu đời: "nảy sinh cùng với xã hội loài ngƣời" + Giáo dục có vai trò quan trọng: là một chức năng sinh hoạt không thể thiếu và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội. + Tính chất của giáo dục: tính lịch sử cụ thể. 13 z Theo Kinh điển Phật giáo, giáo dục phải hiểu theo nghĩa "giáo hóa", gốc tiếng Phạn của nó là Pri-pàka. Giáo là khiến cho con ngƣời, làm cho con ngƣời hiểu và hành đƣợc các thiện pháp; Hóa là khiến cho con ngƣời tránh xa các bất thiện pháp.
Giáo dục ở đây đồng nghĩa với tu hành. - Công tác giáo dục: Từ “công tác” theo nghĩa danh từ là chỉ công việc của nhà nƣớc hoặc đoàn thể, theo nghĩa động từ là chỉ làm công việc của nhà nƣớc, của đoàn thể. Vì vậy, cụm từ công tác giáo dục có thể hiểu là các công việc của một tổ chức, đoàn thể liên quan đến hoạt động giáo dục, nhƣ vậy bao hàm cả việc quản lý, tổ chức, hoạt động thực tiễn… - Giáo dục Phật giáo: Theo Hòa thƣợng Thích Nhật Quang “Giáo dục và đàoòa tạo Phật giáo là con đƣờng thu học thông qua Giới (Sila), Định (Samàdi) và Tuệ (Pannà) là sự hoàn thiện hay giải thoát của con ngƣời trên cơ sở đánh thức, nuôi dƣỡng và phát triển giới đức, tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân” [3, tr.29] - Hiểu theo nghĩa công tác giáo dục với nghĩa của từ công tác, giáo dục, công tác giáo dục nhƣ trên thì khái niệm Công tác giáo dục Phật giáo có thể hiểu với nghĩa là toàn bộ các hoạt động liên quan đến giáo dục của Phật giáo, bao gồm: quản lý, tổ chức, hoạt động,… Điểm cần lưu ý: Với nghĩa hiểu này, công tác giáo dục Phật giáo không chỉ hƣớng đến đối tƣợng là Tăng Ni mà còn một nhóm đối tƣợng khác là Phật tử với các hoạt động hƣớng dẫn Phật tử rất đa dạng và phong phú. Thực tiễn đã cho thấy, hƣớng dẫn Phật tử là một hoạt động luôn song hành cùng các hoạt động phật sự của Phật giáo, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Thời kỳ đầu của lịch sử Phật giáo Việt Nam, các hoạt động hƣớng dẫn Phật tử chủ yếu gắn liền với các hoạt động truyền giáo: truyền đạo, giảng đạo, dạy tu thiền. Những thời kỳ sau đó là sự dấn thân của các nhà sƣ vào đời sống nhân dân, đƣa Phật giáo đến gần 14 z hơn với ngƣời Việt, các hoạt động nhƣ giảng pháp, thành lập các đạo tràng, hƣớng dẫn Phật tử tu tập,. đã góp phần không nhỏ vào công cuộc hoằng dƣơng đạo pháp. Chính vì vậy, ngay từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời năm 1981 đã cho thành lập Ban Hƣớng dẫn Nam nữ Phật tử bên cạnh sáu ban ngành trực thuộc Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đến đại hội V, Ban Hƣớng dẫn nam nữ Pphật tử đƣợc đổi tên thành Ban Hƣớng dẫn Phật tử Trung ƣơng Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
"Mục đích của Ban Hƣớng dẫn phật tử là hƣớng dẫn hàng phật tử tại gia tu học Phật pháp, hộ trì Tam bảo, tu dƣỡng đạo đức bản thân, góp phần xây dựng cuộc sống hòa bình, an lạc cho xã hội" [21, tr. "tại Điều 25 chƣơng V Hiến chƣơng Giáo hội Phật giáo Việt Nam quy định trong Hội đồng Trị sự có Ban Hƣớng dẫn phật tử để chuyên trách hƣớng dẫn sinh hoạt tu học của hàng Phật tử tại gia" [21, tr. Với khái niệm công tác giáo dục Phật giáo đƣợc hiểu với ý nghĩa trên đây, và với nội dung phân tích về bản chất của hoạt động hƣớng dẫn Phật tử của Ban Hƣớng dẫn Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay thì có thể thấy, hƣớng dẫn Phật tử cũng là một hình thức, nội dung trong công tác giáo dục Phật giáo Việt Nam. Mà đối tƣợng hƣớng đến của hoạt động này là đội ngũ Phật tử của Phật giáo với mục đích là hƣớng dẫn họ hiểu hơn về Phật giáo, tu tập theo Phật giáo.
Tuy nhiên sự bóc tách hoạt động này với hoạt động giáo dục Tăng Ni Phật giáo với việc thành lập hai ban khác nhau là: Ban Hƣớng dẫn Phật tử và Ban Giáo dục Tăng Ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phần nào cho thấy sự độc lập tƣơng đối của hoạt động hƣớng dẫn Phật tử với công tác giáo dục Phật giáo Việt Nam. Chính vì vậy, khi phân tích nội hàm khái niệm công tác giáo dục Phật giáo Việt Nam chúng tôi khẳng định nó bao gồm cả hoạt động hƣớng dẫn Phật tử tuy nhiên trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi không đề cập, đi sâu đến vấn đề này mà 15 z chủ yếu đề cập đến công tác quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục Tăng Ni của Giáo hội Phật giáo Việt Nam gắn với Ban Giáo dục Tăng Ni. Nhận thức chung về công tác giáo dục của Phật giáo * Đức Phật với công tác giáo dục Đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại. Đạo Phật là đạo của giác ngộ, giải thoát.
Con đƣờng giải thoát lại bằng trí tuệ siêu việt, minh triết để đẩy lùi đi vô minh, u tối. Cách đây gần 3000 năm Ðức Phật đã hiện hữu trên cuộc đời, sống trong nhung lụa, quyền quý nhƣng bằng tâm hồn nhạy cảm, Ngƣời đã thấu hiểu những khổ đau vô tận của kiếp ngƣời. Tất cả nổi niềm băn khoăn ấy đã thúc đẩy Ngài từ bỏ cuộc đời vƣơng giả dấn thân đi tìm lẽ sống vĩnh hằng bất tử, Ngài trở thành bậc toàn giác toàn trí thấu suốt mọi quy luật chi phối con ngƣời và vũ trụ. Chính vì lẽ đó, từ khi Đức Phật thành đạo, ngài đã luôn chỉ bày cho chúng tăng con đƣờng tu học, làm cho phúc tuệ viên minh.
Đức Phật có dạy "Duy tuệ thị nghiệp" tức chỉ có trí tuệ là sự nghiệp. Ngài đã từng tuyên bố: "Này các Tỳ Kheo, xƣa cũng nhƣ nay, ta chỉ dạy hai điều: sự khổ và con đƣờng đƣa đến diệt khổ" [Xem 15]. Ngài luôn đề cao sự hiểu biết tri thức, vai trò của giáo dục: Trong Kinh Pháp cú - cuốn kinh đã tập hợp 423 câu Pàli êm dịu mà Đức Phật đã đọc lên trong khoảng 300 trƣờng hợp, trên đƣờng hoằng pháp kéo dài 45 năm, để tích hợp với những tâm tánh khác nhau của ngƣời nghe. Trong chƣơng thứ 11, đã đề cập đến lời đức Phật: "Con ngƣời ít học thƣờng trƣởng thành nhƣ bò.
Bắp thịt có nở nang nhƣng trí tuệ không phát triển" [37, tr. Theo Thích Nguyên Hiệp, có thể nói rằng công tác giáo dục của Phật giáo đƣợc bắt đầu từ thời điểm đức Thế Tôn thuyết bài pháp đầu tiên cho năm anh em Tôn giả Kiều Trần Nhƣ tại Lộc Uyển, Sarnath “Này các vị, hãy lắng nghe, Pháp bất tử đã đƣợc phát hiện; ta sẽ chỉ dẫn và giảng dạy Pháp ấy”.