CHƯƠNG 1 LY LUAN CHUNG VE DAO DUC VA GIAO DUC GIA TRI DAO DUC TRUYEN THONG 1. ĐẠO ĐỨC VÀ GIA TRI DAO DUC TRUYEN THON! 1. Quan niệm về đạo đức Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh la mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lý” được xem như đồng, nghĩa với đạo đức cỏ gốc từ Hy Lạp là ethisos - lễ thói, tập tục.
Khi nói đến đạo đức là nói đến lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày. Gắn với sự ra đời của Triết học (philosophia) là sự hình thành Đạo đức học (tiếng Hy Lạp: erhiÄos, tiếng latin: ethicus hay ethica) véi tư cách là lý luận về đạo đức ra đời từ thời Hy Lạp cỗ đại, khoảng thé ky thir VIII (TrCN), Với tư cách là một bộ phận của trĩ thức triết học, những tư tưởng đạo đức. đã xuất hiện từ thời cỗ đại ở Ấn Độ, Trung Hoa và đặc biệt là ở Hy Lạp. Từ trước đến nay khi nghiên cứu về lĩnh vực đạo đức có nhiều cách tiếp cận đạo đức.
theo những khuynh hướng khác nhau. Ø phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cô đại xuất hiện sớm, được thể hiện trong quan niệm về đạo đức của họ. Đạo đức là một trong những phạm trủ quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cỗ đại. *Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi.
Về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học để chí con đường cúa tự nhiên, tính quy luật của tự nhiện. “Đức” dùng để nói đến nhân đức, đức tính vả nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Có thể nói, đạo đức theo quan niệm của người Trung Hoa cô đại chính là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuần theo. O phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng.
Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrát là người đặt nền móng đầu tiên cho khoa học đạo đức. Tuy nhiên, các nha triét học phương Tây khi nghiên cứu về đạo đức lại cỏ cách tiếp cận khác nhau như: Aristốt và Platôn khi nghiên cứu. về đạo đức đã quy đạo đức của con người vào “ý niệm siêu cảm giác” hay “ý niệm của điều thiện”. Hêghen thì cho rằng đạo đức là biểu hiện của “ý niệm tuyệt đối” hay quy đạo đức vào tỉnh yêu phổ biến như Phoiobäc.
rằng đạo đức là cái gỉ đỏ bắt biển, tồn tại vĩnh cứu. Các nhà triết học trước Mác kể cả triết học phương Đông và phương Tây khi bàn về đạo đức đã có những đóng góp nhất định, nhưng nhìn chung đều rơi vào quan điểm duy tâm. Họ không nhin thấy đạo đức được hình thành từ trong. lao động và là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, của loài người Hạn chế lớn nhất của các nhà triết học trước Mác là không nhìn thấy được mồi quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, không thấy được cơ sở kinh tễ trong các quan hệ đạo đức xã hội.
Khác với tắt cả các quan niệm trước đó, C. Ãngghen dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã xây dựng một học thuyết đạo đức có tính cách mạng.Ãngghen đã khẳng định, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.Ãngghen đã chứng minh rằng: trước khi sáng lập các lý luận và nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Xuất phát từ vai trò của lao động đối với sự hinh thành, tồn tại và phát triển của con người.Mác đi đến quan niệm về tính quy định của phương thức sản xuất đối với toàn bộ hoạt động của con người, của xã hội loài người. Trong lời tựa viết cho tác phẩm “Gop phan phê phán khoa kinh tế chính trị”, C.
Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại tồn tại của họ quyết định ý thức của họ” [45, tr. 15] “Tính lịch sử của đạo đức thể hiện ở chỗ: trong các học thuyết về đạo đức,, có học thuyết chỉ có giá trị thúc đấy tiến bộ xã hội ở một thời điểm nhất định nào đó, nhưng cũng có những học thuyết đạo đức có thể có giá trị lâu dài đối với sự phát triển xã hội Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp đều có đạo đức riêng, phán ánh những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế mà trong đó, người ta tiến hành sản xuất vả trao đổi.
Tuy nhiên, thông qua tính lịch sử và tính giai cấp của đạo đức, người ta tìm thấy những giá trị đạo đức tương đối bền vững có tính phổ biển cho một dân tộc, thậm chí cho cả nhân loại trong mọi thời kỳ lịch sử. Như vậy, các hiện tượng đạo đức ở các thời đại khác nhau có tính chất khác nhau, trong xã hội có giai cấp thì đạo đức có tính giai cấp. Cho nên, không thể coi đạo đức là nhất thành, bắt n, vĩnh viễn như lý thuyết của một số nhả đạo đức trước kia đề ra. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo.
đức xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác ~ Lênin, đạo ức là một hình thái ý thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống xã hội. Ngày nay, đạo đức được hiểu là một trong những phương thức cơ bản điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội, là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học. Đến nay, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về đạo đức Trong Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin của tập thê các nhà khoa học ở " Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh vả đánh.
giá cách ửng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cả nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [26, tr.8], “Theo định nghĩa nảy thi đạo đức có các đặc trưng sau: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành v¡ của con người. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: hong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức.Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bat kỳ trong thời đại lich sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thể kỹ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác.
Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cắp nhất định. Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.
Đạo đức là một hệ thống các giá trị. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển vả hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chinh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phủ hợp với sự phát triển, tiến bộ thi hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.
Như vậy, đạo đức lä một hình thái ý thức xã hội, một trong những giá trị 12 tinh thần mà xã hội loài người đã sáng tạo ra. Đó là một hệ thống chuẩn mực, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chinh hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người nảy với người khác, giữa cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thông, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức là một gid trị bền vững, là chuẩn mực cơ bản và là thành phần nên tảng của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách. Vai trỏ của đạo đức với sự phát triển nhân cách con người đã khách quan hóa tầm quan trọng của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách của sinh viên.
Giá trị đạo đức truyền thống Giá trị theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu nó lả cái làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận. Người ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tỉnh than, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội Giá trị đạo đức với tư cách là một yếu tổ cấu thành của hệ thông các giá trị tỉnh thần của đời sống xã hội xác định là những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vi của con người. Là một trong những phương thức điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Giá trị đạo đức gắn với nhu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo hướng tạo nên sự thống nhất hải hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Theo giáo sư Huỳnh Khải Vinh: *Giá trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ giữa người — người với tự nhiên và xã hội (gia đình cộng đồng.