CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO DỊCH LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ ĐỘNG SẢN KHÔNG PHẢI ĐĂNG KÝ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là động sản không phải đăng ký 1. Khái niệm giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là động sản không phải đăng ký Để có thể làm rõ nội hàm của khái niệm “giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là động sản không phải đăng ký”, trước tiên cần làm rõ nội hàm của bốn khái niệm rộng hơn, có ngoại diên bao hàm chính khái niệm này gồm: “tài sản”, “động sản không phải đăng ký”, “tài sản chung của vợ chồng” và “giao dịch”. Tài sản là một khái niệm rộng, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau1.
Theo nghĩa phổ thông, tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu2, đó có thể là bất cứ thứ gì có giá trị, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra3. Còn về quan điểm luật học, phạm vi nội hàm của khái niệm về tài sản bị thu hẹp đáng kể do loại trừ đi các giá trị về tinh thần. Bên cạnh đó, một cách tiếp cận bao quát hơn lại cho rằng “tài sản là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến trong xã hội có nhà nước, có pháp luật và có tư hữu; các quyền và lợi ích của chủ thể đối với một đối tượng mà pháp luật quy định là tài sản”4. Tại Việt Nam, Điều 105 BLDS năm 2015 quy định tài sản là “vật”, “tiền”, “giấy tờ có giá” và “quyền tài sản”, bao gồm cả tài sản hiện có và hình thành trong tương lai.
Trong đó: - Vật, là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Tuy nhiên, để được xem tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, vật cần đáp ứng các điều kiện như có giá trị về kinh tế, sử dụng và có thể được chiếm giữ, quản lý, kiểm soát bởi con người5. Ví dụ, không khí trong tự nhiên là vật nhưng không là tài sản bởi chưa được khai thác, kiểm soát, 1 Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (Tái bản có sửa đổi, bổ sung), Lê Minh Hùng (Chủ biên), Nxb. Hồng Đức, tr.
2 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb TP. Hồ Chí Minh, tr. 3 Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb Công an nhân dân, tr. 4 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng Chủ Biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nxb.
Công An Nhân Dân, tr. 5 Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (1), tr. 10 quản lý, sở hữu bởi bất kỳ ai, chỉ khi được một thực thể pháp lý nào đó nén vào bình, lượng không khí này mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật dưới góc độ tài sản. - Tiền, là vật ngang giá chung được phát hành bởi một thực thể chính trị đương quyền, được chấp nhận trong thanh toán để lấy hàng hóa hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ, bao gồm nhiều loại như: hóa tệ, tín tệ, bút tệ, tiền điện tử6.
Tuy nhiên, tiền dưới định dạng tài sản tại Việt Nam chỉ có thể hiểu là Việt Nam Đồng (VND) do NHNNVN độc quyền phát hành (Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 222/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2013 về thanh toán bằng tiền mặt)7 hay còn gọi là tín tệ. Bởi vai trò quan trọng của tiền trong việc bình ổn giá, duy trì, phát triển đời sống của người dân và thậm chí là đảm bảo chủ quyền quốc gia, quyền định đoạt của các chủ sở hữu sẽ bị giới hạn trong việc từ bỏ hoặc tiêu dùng mà không được xé, hủy hoại một cách tùy ý8. - Giấy tờ có giá, được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự, tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau gồm công cụ chuyển nhượng, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác (như séc, cổ phiếu9, trái phiếu, tín phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi…). Theo Khoản 8, Điều 6 Luật NHNNVN năm 2010; Khoản 1, Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN của NHNNVN ngày 16/02/2012 quy định về việc chiết khấu Giấy tờ có giá của NHNNVN đối với các tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Khoản 1, Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN của NHNNVN ngày 15/4/2016 quy định về việc lưu ký và sử dụng giấy tờ có giá tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác”.
Như vậy, chỉ có những giấy tờ được ghi nhận tại Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 và các văn bản hướng dẫn đang còn hiệu lực mới 6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (1), tr. 7 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng Chủ Biên) (2017), tlđd (4), tr. 8 Bùi Đăng Hiếu (2005), “Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”, Tạp chí luật học, số 1/2005, tr. 9 Chỉ các cổ phiếu được xem là chứng khoán theo quy định pháp luật mới được xem là tài sản dưới dạng giấy tờ có giá.
Riêng cổ phần thông thường thì tài sản lại là quyền tài sản (quyền của chủ sở hữu đối với cổ phần tại công ty phát hành), cổ phiếu chỉ là chứng chỉ ghi nhận quyền tài sản nên không được coi là tài sản để tham gia vào giao lưu dân sự, chẳng hạn như giao dịch bảo đảm. Xem thêm: Bùi Đức Giang (2019), “Nhận tài sản đảm bảo là phần vốn góp, cổ phần từ quy định pháp luật đến thực tiễn”, Tạp chí ngân hàng, số 01/2019, tr 24 - 27. 11 được xác định là giấy tờ có giá10. Quyền tài sản, được quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015 với điều kiện tiên quyết là quyền đó phải trị giá được bằng tiền và bỏ đi yêu cầu “có thể chuyển giao được trong giao lưu dân sự” so với Điều 181 BLDS năm 2005.
Đây là một điểm mới và tiến bộ, bởi lẽ có những quyền tài sản gắn liền với nhân thân của chủ thể không thể chuyển giao nhưng vẫn cần được tôn trọng, bảo vệ cho chủ sở hữu như là một tài sản11. Mặt khác, các quyền mang tính chất của một quan hệ pháp luật (như quyền sở hữu, quyền thừa kế) lại không phải là quyền tài sản. Bởi lẽ, khách thể của các quan hệ pháp luật này chính là tài sản và nếu xem các quyền này là quyền tài sản thì chúng lại chính là khách thể trong quan hệ pháp luật của mình12. Động sản không phải đăng ký.
Khoản 2, Điều 105 BLDS năm 2015 quy định “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản” nhưng lại không đưa ra khái niệm cụ thể mà quy định theo hướng liệt kê tại Điều 107 của Bộ luật này. Cụ thể, bất động sản là: (i) đất đai, (ii) nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai, (iii) tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, và (iv) tài sản khác theo quy định pháp luật. Còn động sản lại là “những tài sản không phải là bất động sản”. Việc quy định mang tính chất loại trừ này dẫn đến phạm vi của những loại tài sản được xem là động sản rất rộng và chỉ có thể xác định được sau khi hiểu rõ các tiêu chí làm cơ sở phân chia.
Dựa vào bản chất của tài sản, người ta chia tài sản thành bất động sản và động sản do đặc tính vật lý, sự gắn liền và công dụng đặc biệt của nó13. Trong đó, tiêu chí cổ điển nhất để phân biệt giữa bất động sản và động sản là khả năng di dời về mặt cơ học (vật lý). Quy định tại Điều 107 BLDS năm 2015 cũng đã liệt kê các tài sản được xem là bất động sản theo hướng tăng dần về khả năng di dời, và khi các tài sản không còn đáp ứng tính chất vật lý về sự kiên cố, ổn định, khó tháo rời, di chuyển,… thì sẽ được xem là động sản (những tài sản có khả năng di dời, chuyển động). Ngoài ra, công dụng đặc biệt của tài sản cũng là một tiêu chí phân loại quan trọng cần lưu tâm.
Bởi lẽ, đôi khi sẽ có sự chuyển đổi từ động sản thành bất động sản và ngược lại khi xét các công dụng của nó. Ví dụ: tấm pin năng lượng mặt trời được lắp đặt làm mẫu tại các cửa hàng với mục đích trưng bày, giới thiệu sản phẩm 10 Xem thêm các loại giấy tờ có giá theo quy định được liệt kê tại: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (1), tr. 11 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (Đồng Chủ Biên) (2017), tlđd (4), tr. 12 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (1), tr.
13 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (1), tr. 12 sẽ được xem là động sản, nhưng khi gắn nó vào các nhà máy cho mục đích sản xuất điện năng tại các dự án thì lại được xem là bất động sản, để rồi sau một khoảng thời gian dài (thông thường là 50 năm) khi tấm pin không thể tiếp tục khai thác, nó lại một lần nữa bị tháo rời và trở thành động sản. Đối với động sản thì căn cứ vào đặc trưng, tính chất, giá trị tài sản, yêu cầu quản lý nhà nước về tài sản mà pháp luật Việt Nam quy định động sản phải đăng ký quyền sở hữu và động sản không phải đăng ký quyền sở hữu14. Việc đăng ký này có ý nghĩa nhằm ghi nhận quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu một cách công khai, minh bạch, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước.
Khoản 2, Điều 106 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác”.